Showing posts with label Tiếng Việt. Show all posts
Showing posts with label Tiếng Việt. Show all posts

Tuesday, July 29, 2014

Cách Bỏ Dấu Tiếng Việt

 




Cách Bỏ Dấu Tiếng Việt

Hồng Đức

Trên trang web của Trung Tâm Từ Điển Học Việt Nam1 thì tác giả của cái quy tắc này là Vũ Xuân Lương nhưng trong bài “Vấn đề đánh dấu thanh tiếng Việt” của tác giả Dũng Vũ2 thì Vũ Xuân Lương và Hoàng Phê là đồng tác giả của quy tắc. (Có lẽ vì Dũng Vũ thấy đăng chính thức trong vietlex.com mà Hoàng Phê là “chủ tịch vĩnh viễn” chăng?) Tác giả Dũng Vũ đã có những nhận xét và phê bình cái quy tắc này một cách khoa học và xác đáng cũng như có phê bình thêm về qui tắc bỏ dấu của một tác giả khác nữa là Đoàn Xuân Kiên3 sau khi đã nêu ra các đặc điểm ngữ âm của tiếng và chữ Việt.

Bài viết này không nhằm mục đích đánh giá lại cái quy tắc của Vũ Xuân Lương bằng các phương pháp khoa học như Dũng Vũ đã làm mà chỉ có ý đưa ra vài suy nghĩ về văn hóa và người làm văn hóa Việt Nam.

Cần biết rằng vietlex.com là trang web chính thức của Trung Tâm Từ Điển Học,4 một trung tâm của nhà nước và đảng Cộng Sàn Việt Nam, nên những bài viết, những quy luật mà trung tâm này phổ biến sẽ có ảnh hưởng rất sâu rộng trong tầng lớp sinh viên học sinh và giáo viên cũng như giới trí thức trong nước. Chắc chắn rằng cái quy tắc này đã trở thành quy luật ở những tòa soạn báo chí, ở những nhà xuất bản, ở những cơ sở đang làm công việc chuyển văn bản thành dữ liệu điện toán và đang dần biến thành thói quen của mọi tầng lớp dân chúng khi phải “đánh máy”.

Một số trí thức trẻ hải ngoại cũng bị thuyết phục hoặc bị mê hoặc bởi cái quy tắc này sau khi họ thắc mắc về cách đánh dấu tiếng Việt, truy tìm bài viết về vấn đề này trên Internet và chỉ thấy bài của Vũ Xuân Lương là đơn giản, là có vẻ có quy luật và dễ nhớ nên áp dụng theo. Còn bài viết của Dũng Vũ thì quá phức tạp, chứng minh dài dòng, lại có mấy cái biểu đồ cái nào cũng giống cái nào, chả biết đưa ra để làm gì, bèn không đọc kỹ, hoặc có đọc cũng chả hiểu bèn bỏ qua, hoặc cho rằng tác giả Dũng Vũ là một người khoe mẽ, ra cái điều hiện đại có máy móc ghi biểu đồ tần số âm thanh, bèn có ác cảm với tác giả và không quan tâm chứ đừng nói tới áp dụng các đề nghị của tác giả.

Rồi lại có bài của Cao Xuân Hạo đánh giá rất cao bài viết của Dũng Vũ cũng tại trang web Mạng Giáo Dục nói trên. Nhưng đây cũng lại là một bài viết dài dòng văn tự, cốt yếu cũng chỉ để trình bày các ý kiến của ông Cao Xuân Hạo trong lãnh vực gọi là “Âm Vị Học” của tiếng Việt và cũng phần nào muốn tỏ ra rằng học sinh ngày trước ở miền Bắc đã được học một thứ tiếng Việt hiện đại hơn miền Nam, do công của ông Cao Xuân Hạo làm ra.

Và điều quan trọng nhất là chưa một vị học giả có tên tuổi nào đứng ra kêu gọi hay đề xướng một qui tắc bỏ dấu đơn giản cho xã hội sử dụng ngoài “giáo sư” Hoàng Phê và “chuyên viên” Vũ Xuân Lương. (Các dấu ngoặc kép ở đây có lý do của nó, xin được trình bày sau.)

Kể cũng đúng thôi, vấn đề đánh dấu giọng này mà các vị trí thức lão thành thường cho là khỏi phải bàn -- vì xưa nay đã ổn rồi -- nên không cụ nào lên tiếng. Các cụ không thể nào tưởng tượng là ngày nay lại có kẻ dám sửa lại những điều cha ông đã làm thành thói quen, thành quy luật từ bao lâu nay, nên khi có ai đó giúp các cụ “đánh máy”, in ra thấy kỳ kỳ thì các cụ cũng chỉ lắc đầu bảo tụi trẻ bây giờ đánh máy kém quá, lỗi tùm lum, hoặc các cụ cho là máy điện toán không dễ dùng như máy đánh chữ, rồi các cụ đành chịu vì có yêu cần sửa lại cũng rất khó khăn, thôi thì có chữ đọc là được rồi, không nhằm nhò gì ba cái dấu chỗ này chỗ kia.

Thế mà không đơn giản như các cụ tưởng, sau lưng các cụ người ta đang tìm mọi cách để chứng minh là những gì -- tất cả những gì -- mà các cụ và cha anh các cụ đã làm đều sai, đều dở, đều tệ hại và cần phải được sửa lại. Với cái tựa đề “Quy tắc đánh dấu...” cứ y như là “quy tắc giao thông” vậy, nó có vẻ khẳng định đây là những quy tắc đã được đề ra bởi cơ quan thẩm quyền sau những nghiên cứu, dùng thử và đánh giá cao. Nhưng không phải vậy!

Được đăng trên một trang web như thế, nó sẽ làm người đọc tưởng đây là quyết định hay nghị định gì gì đó mới ra của “Hàn Lâm Viện Ngôn Ngữ Việt Nam”, một cơ quan mà sau hơn 30 năm xây dựng “một quê hương giàu đẹp”, một đất nước “độc lập tự do hạnh phúc” ắt là phải có mặt và hoạt động để hướng dẫn người dân sử dụng ngôn ngữ tự do trong vòng tiến bộ để ngôn ngữ ngày càng đẹp hơn hầu đem lại nhiều hạnh phúc hơn cho nhân dân trên cái quê hương đó. Nhưng hình như cái cơ quan đó chưa hề tồn tại hoặc có tồn tại mà chưa hề hoạt động. Và qua các mâu thuẫn trong lập luận, áp đặt trong kết luận, cái “quy tắc” này đã nói lên một cái gì khác ngoài vấn đề chữ nghĩa.

Những “quy tắc” tưởng chừng “mới”.

Bản qui tắc của Vũ Xuân Lương có vẻ rất đơn giản chỉ với bốn trang giấy in mà gồm đủ các quy tắc và phần giải thích lý do phải áp dụng, chưa kể phần mào đầu và phần định nghĩa các thuật ngữ trong lãnh vực ngữ âm học. Sự đơn giản này hấp dẫn giới trẻ vốn thích những gì thực tế. Bản quy tắc này gồm năm quy tắc, xin tóm lược như sau:

Quy tắc 1. Với những chữ chỉ có một nguyên âm, “thì dấu thanh được đặt vào nguyên âm đó. Ví dụ: á à, ì ạch, ọ ẹ, ủ rũ, ọp ẹp, ục ịch, hà, lán, giá, giục, quả, quỹ, quỵt... (u và i trong gi và qu không được kể là nguyên âm mà hợp với g và q thành các tổ hợp phụ âm.)” (trích nguyên văn).

Quy tắc 2. Với những chữ có nguyên âm mang dấu phụ (gọi là “dấu âm” thì đúng hơn – HĐ chú) như Ă, Â, Ê, Ô, Ơ, Ư “thì dấu thanh đặt ở nguyên âm mang dấu phụ đó (riêng ƯƠ, dấu đặt ở Ơ). Ví dụ: ế ẩm, ồ ề, ở rể, ứ ừ, chiền chiện, cuội, cừu, duệ, duềnh, giội, giường, ngoằng, quyệt, ruỗng, rượu, siết, suyển, tuẫn tiết, tiến triển...”

Quy tắc 3. Với những chữ có hai nguyên âm và kết thúc bằng phụ âm “thì dấu thanh được đặt vào nguyên âm chót. Ví dụ: choàng, hoạch, loét, quẹt, suýt, thoát, xoèn xoẹt...”

Quy tắc 4. Với những chữ “kết thúc bằng oa, oe, uy, dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm chót. Ví dụ: hoạ, hoè, huỷ, loà xoà, loé, suý, thuỷ...”

Quy tắc 5. những chữ kết thúc bằng hai hay ba nguyên âm “khác với oa, oe, uy, thì dấu thanh được đặt vào nguyên âm áp chót. Ví dụ: bài, bảy, chĩa, chịu, của, đào hào, giúi, hoại, mía, ngoáy, ngoáo, quạu, quẹo, ngoẻo, chịu, chĩa...”

Ngoài qui tắc số 4 thì bốn qui tắc kia đưa đến kết quả giống hệt với cách bỏ dấu xưa nay của cha anh chúng ta trước khi những “người con ưu tú” bắt đầu “chỉ đạo văn hóa” của dân tộc. Tất cả những ai đã từng quen với chiếc máy đánh chữ hoặc đọc nhiều sách báo cũ đều thấy rằng sách báo hiện tại dưới sự chỉ đạo của “đỉnh cao trí tuệ” của Đảng có cách xếp chữ chẳng khác gì ngày trước. Vì sự xuất hiện của các vần oa, oe, uy rất hiếm nên thường không ai thấy có sự khác biệt. Vậy nên mới nói “mới mà không mới”.

Áp đặt võ đoán

Theo cách xếp chữ cũ (từ nay xin gọi là 'cách bỏ dấu truyền thống'), thì dấu giọng sẽ bỏ trên mẫu-tự-nguyên-âm áp chót nếu vần kết thúc bằng hai mẫu tự nguyên âm trở lên. Nói “mẫu tự nguyên âm” là để kể cả “y” vào trong trường hợp này. Thế nên cách truyền thống viết: “hóa, xòe, súy” chứ không phải cải cách thành “hoá, xoè, suý” như qui tắc số 4 của Vũ Xuân Lương.

Để giải thích cho sự “cải cách” này, tác giả Vũ Xuân Lương đã phải áp đặt qui luật dấu thanh phải được đặt trên nguyên âm mà không giải thích tại sao lại cần phải như vậy. (Mặc dù chưa bao giờ có ai đặt dấu trên phụ âm tiếng Việt ngoại trừ khi viết tắt: “Ngã” hay “ngø” thay cho “Nguyễn, người” chẳng hạn. Hoặc có người khi viết tắt lại bỏ dấu vào khoảng không: Ng ã hay ng ø chẳng hạn.) Tuy không minh thị xác định rằng mình đang áp dụng quy luật này, nhưng một khi tác giả chỉ dựa vào tính năng của mẫu tự nguyên âm (âm nguyên, âm bán-nguyên...) để phân tích và lý luận, người đọc ắt nhận ra cái quy luật trên là chủ đạo cho lập luận của tác giả.

Trong thực tế phát âm, khi gặp một chữ (hay còn gọi là “tiếng”, hay “âm tiết” như Vũ Xuân Lương dùng) có phụ âm cuối thì thanh điệu (biểu thị bằng dấu thanh) bao trùm cả phần phụ âm này, tức là thanh điệu bao trùm toàn thể một vần. Có thể thẩm định điều này bằng cách đọc to vài chữ sau: “uống, bình, ủng, liễn, đoạn”. Vậy dấu thanh vẫn có thể đặt vào phụ âm cuối chứ. Dấu-thanh-phải-đặt-trên-nguyên-âm chẳng qua chỉ là một quy ước xưa nay chứ chưa bao giờ là quy luật tự nhiên cả. (Chính Cao Xuân Hạo cũng đã nói như vậy trong bài viết của mình.) Và rõ nhất là khi ráp vần để tập đọc, chúng ta luôn dạy học trò bỏ dấu sau cùng: “Lờ ư lư ơ lưa ngờ Lương huyền Lường”, chứ đâu có ai ráp “Lờ ư lư ơ lưa huyền lừa ngờ Lường” đâu.

Nhưng vì “dấu phải được đặt trên nguyên âm” nên xuất hiện vấn đề khi gặp chữ có hai nguyên âm trở lên thì đánh dấu ở đâu. Để giải quyết, tác giả phải vận dụng tới khái niệm “bán nguyên âm” là khái niệm khá quen thuộc đối với những người đã từng học ngoại ngữ. Do có vẻ quen thuộc nên họ dễ chấp nhận. Nhưng đây cũng là một khái niệm mơ hồ đối với họ vì mấy ai khi học ngoại ngữ lại định nghĩa được rõ ràng “bán nguyên âm” là gì. Rồi lại xuất hiện thêm thuật ngữ “bán phụ âm”. Quả thực nghe cũng có vẻ quen thuộc vì đã có 'bán nguyên âm' thì phải có 'bán phụ âm' chứ. Và một khi gặp đám hỏa mù thuật ngữ như vậy, những “kẻ ngoại đạo” đối với lãnh vực Ngữ Âm đành có cảm giác bị khuất phục.

Các nhận định về ngữ âm chỉ dựa trên mặt chữ.

Tính năng của hai mẫu tự đồng âm “i” và “y” khi đi sau nguyên âm được tác giả của quy tắc giải thích: “Với chữ I, cũng tương tự, nó vừa dùng để viết nguyên âm i (im ỉm, in ít...), vừa dùng để viết bán phụ âm i đóng vai trò là âm cuối trong các trường hợp như: tai tái, cày cấy, táy máy...”

Rõ ràng vì tác giả không muốn đặt dấu trên mẫu tự “i” hay “y” ở cuối nên phải đặt cho chúng cái chức năng làm “bán phụ âm” bất chấp những mẫu tự này vang lên rõ thế nào khi được phát âm. Nếu tác giả chịu khó ngồi phát âm các chữ trong ví dụ của chính mình thì chắc tác giả cũng thấy âm |i| của mẫu tự “y” trong chữ “táy máy” ngân vang rất rõ ràng sau một âm [a] cụt ngủn. Nếu tác giả gọi chữ “a” trong trường hợp này là “bán nguyên âm” thì may ra còn chấp nhận được. Nhưng gọi “y” là “bán phụ âm” thì đúng là tác giả chưa hề nghe ai nói hay đọc hai chữ “táy máy”.

Trường hợp “tai tái” thì mặc dù âm |i| phát ra không rõ ràng như âm [a] đi trước nó nhưng |i| này cũng không đến nỗi cụt mà gọi nó là bán âm này kia. Thực ra cặp “ai” là một nguyên âm ghép (còn gọi là “nhị trùng âm”). Một âm nguyên được phát ra rõ ràng mà lại gọi là “bán phụ âm” thì rõ ràng tác giả chỉ nhìn mặt chữ mà xác định tính năng của từng mẫu tự mà thôi.

Tương tự là sự lầm lẫn về chữ “o” hay “u” ở cuối chữ. Tác giả nói: “Khi dùng O và U để viết w đóng vai trò là âm cuối trong các trường hợp như đào hào, báo cáo, táo, đau, rau câu... thì gọi là bán phụ âm.” Câu của tác giả hơi tối nghĩa, xin mạn phép “dịch” lại như sau: “Khi mẫu tự “o” hoặc “u” được dùng để viết âm [w] ở cuối âm tiết như trong các trường hợp: “đào hào, báo cáo, đau, rau câu...” thì được gọi là các bán phụ âm.”

Điều đáng khen là tác giả đã nhận ra rằng tuy “o” và “u” được viết hai kiểu khác nhau nhưng lại được phát âm giống nhau là [w] tuy điều này chưa đúng hẳn. Nhưng vẫn không thể bảo rằng tác giả đã nghe kĩ những tiếng trong ví dụ của mình: Vì chúng chỉ khá giống nhau thôi. Âm cuối của “đào” quả thực nửa [o] nửa |u| nên có thể tạm chấp nhận là “bán nguyên âm” -- vì ở cuối nên tác giả gọi là “bán phụ âm”? -- nhưng mẫu tự “u” của “đau” thì vang rõ ràng âm |u|, chỉ có âm [a] phía trước là cụt ngủn giống trường hợp a cụt của “táy máy” ở trên. Gọi “u” này là bán phụ âm thì cũng sai như trường hợp “y” cuối của “táy máy”.

Nói thêm cho rõ

Nếu để ý, ai cũng thấy ngay: “ă” chẳng qua chỉ là [a] ngắn, “â” chẳng qua chỉ là [ơ] ngắn. Trong ký âm ngôn ngữ, không có một ký hiệu riêng và cụ thể để diễn tả âm ngắn,5 thế nên những người tặng dân tộc ta chữ quốc ngữ đã phải dùng tới dấu trăng cho chữ ă để chỉ âm ngắn của [a]; và đặt dấu mũ trên đầu “a” thành “â” làm âm ngắn của [ơ], không lẽ đặt dấu trăng lên đầu “ơ” để tạo thành một “cục dấu” như vầy: “ôê”.

Nếu để ý tiếp thì cũng thấy ngay rằng “i” và “y” đều mang âm nguyên |i|; và rằng “y” làm nguyên âm trước nó ngắn lại, còn “i” thì không. Thế nên “táy máy” chẳng qua chỉ là “tắi mắi” mà thôi. Đã gọi “ă” là nguyên âm thì phải gọi “ăi” là nguyên âm đôi, và âm |i| cuối là nguyên âm, không có bán phụ âm, bán nguyên âm gì ở đây hết.

Trường hợp của “uy” cũng thế. Vì “u” bị “y” làm ngắn lại nên đọc giống bán nguyên âm [w]. Nếu dùng dấu trăng để làm ngắn một âm, có thể viết “tuy” thành “tuêi”. Và “y” cuối vẫn vẫn ngân vang rõ ràng do đó nó phải là âm nguyên |i|.

“U” đi sau cũng làm “a” ngắn lại. Nếu không vậy, “đau” sẽ được phát âm rất giống “đao”. Vậy “đau” được phát âm là “đău”, và “u” ở đây vẫn là nguyên âm vì vang rất rõ ràng.

Riêng “tây” thì đúng ra chỉ cần viết “tâi” là được, vẫn đủ phân biệt với “tơi” mà không cần đến “y”. Thế nhưng “thói quen là chủ nhân ông của ngôn ngữ” -- lời giáo sư Lê Ngọc Trụ trong “Việt Nam Chính Tả Tự Vị” in năm 1957 --, không cần phải sửa “tây” thành “tơy” hoặc thành “tâi” làm gì để rồi lại phải rắc rối với những cuốn sách in trước “cải cách hiện đại” này. Và cũng không cần tới khái niệm “bán phụ âm” ở đây. “Y” trong trường hợp này vẫn là âm nguyên |i|.

***Nói đến “cải cách hiện đại”, cần rút kinh nghiệm người Trung Hoa: dân chúng đã không tỉnh táo khi Mao cho sửa lại chữ viết của họ, bảo là để giản tiện hơn khi viết.6 Thoạt đầu thì “đại thành công” vì con nít học kiểu chữ mới rất nhanh, tưởng rằng xóa mù chữ cả nước đến nơi. Nhưng cho đến khoảng những năm '90 thì có chuyện cười ra nước mắt:

Số là có một giáo sư Hán học người Việt nọ được đi du lịch Trung Quốc. Vì là du lịch rẻ tiền nên ông được đưa đi thăm thú ở làng quê Trung Hoa nhiều hơn là ở thành thị. Thế là ông giáo sư này gặp may. Sau gần nửa thế kỷ dùng chữ mới, những người đọc được chữ cũ càng ngày càng ít đi, ở thôn quê lại càng thậm tệ vì các nông dân vốn đã mù chữ từ trước, chỉ còn đám trẻ được đi học nhưng lại học chữ mới. Cha hỏi con rồi con hỏi cha mỗi khi họ giở các cuốn gia phả hoặc giấy tờ kinh sách cũ của các đình, chùa, miếu, am... ra xem mà chả hiểu gì mấy.

Thấy ông giáo sư người Việt ung dung đứng trước cổng một ngôi chùa, thưởng thức ngâm nga các câu đối, các bài thơ khắc trên tường trên cột đã rêu phong mốc thếch, họ như bắt được vàng nghĩ ngay đến chuyện nhờ ông ta giải thích hộ những chữ quái gở trong gia phả hay ngay trong nhà họ. Thế là họ tranh nhau, những người Trung Hoa ấy mời ông Việt Nam về nhà, về chùa, đãi đằng đủ thứ, dọn chỗ cho ở, cung cấp người hầu hạ, để ông ngoại quốc này được tự nhiên và thân thiện đọc giùm họ chữ của họ và ghi lại bằng thứ chữ “cải cách” để họ giữ gìn. Chả hiểu ông giáo sư nọ ở lại ngôi làng đó bao lâu và giúp được bao nhiêu người có gia phả ở thôn đó. Chỉ biết là một khi văn hóa bị “lãnh đạo” thì hậu quả của nó không xảy ra ngay đâu, nhưng đã xảy ra rồi thì tai hại khôn lường. Còn những kẻ lãnh đạo Trung Hoa hiện nay thì không tội gì vạch áo cho người xem lưng, thế giới sẽ chẳng bao giờ biết văn hóa và văn minh xứ này đã đi lạc đến đâu.

- Sai lầm khi gọi “o, u” trong “oa, oe, uy” là bán nguyên âm

Ai có biết về hệ thống phiên âm quốc tế đều thấy đúng là “hoa” được phát âm là [hwa]. Và một học sinh lớp 6/Đệ Lực cũng nhận ra ngay trong trường hợp này “o” = [w]. Vũ Xuân Lương cũng nhận ra điều này và mau mắn đem áp dụng thành quy tắc. Nhưng tất cả mọi người Việt Nam (trừ hai ông tổ ngữ âm Vũ Xuân Lương và Hoàng Phê) đều biết “oa” không hề được phát âm là [wa] mà vẫn cứ phải là [Ca]:7 âm [C] được phát rất cứng trong chữ này.

- Cũng không ai nói “ủy ban” là [wỉ ban]. Nếu không thì người miền nam đã viết thành “quỉ ban” rồi! Thế nên một người Việt Nam dù giỏi tiếng Anh đến đâu đi nữa thì cũng không bao giờ tưởng tượng được “Uyn-xơn” lại là tên một vị tổng thống Mỹ (Wilson), “phố Uôn” lại là Wall-Street. Khi đọc báo thấy những chữ “thủ đô Oa-sinh-tơn” thì ai cũng cười tủm; và khi xướng ngôn viên đài truyền hình VTV1 đọc rất rõ “Oa-xinh-tơn” (âm [C] của cô rất cứng và âm |s| thì trong vắt đến độ phải viết là “x”) thì nhiều người đã phải bụm miệng chửi thề. Còn dân mê đá bóng thì phải tập làm quen với chữ “Uôn cắp” nhan nhản trên mặt báo và ra rả trên ti vi mỗi bốn năm một lần, rồi dĩ nhiên sẽ rất nhiều người (như Vũ Xuân Lương) sẽ suy ngược ra rằng “U” và “O” chính là “W”!!!

Theo Vũ Xuân Lương, không được đánh dấu thanh trên chữ “o” trong “oa” vì nó không phải là nguyên âm. Bây giờ đã rõ nó là nguyên âm thì dấu huyền trong chữ “òa” sẽ được đặt ở đâu?

Vì cố gắng đưa ra quy tắc đặt dấu thanh dựa trên các nguyên tắc ngữ âm và muốn các quy tắc của mình mang tính nhất quán để giải thich mọi trường hợp nên Vũ Xuân Lương đã có những lúng túng và nhận định sai lạc trên. Thực ra chữ Việt là một hệ thống ký hiệu phiên âm. Các chữ, dấu âm và dấu giọng cũng làm nhiệm vụ giống với các ký hiệu trong ký âm pháp âm nhạc: hình dáng thế nào, đặt ở đâu, để ghi hiệu quả gì là hoàn toàn do quy ước cả. Mà đã là quy ước thì điều quan trọng nhất là sự phân biệt không gây lẫn lộn và kế tiếp là cần phải đơn giản và/hoặc mang tính trực quan để dễ sử dụng, ngoài ra đôi khi phải chấp nhận một vài ngoại lệ hoặc vô lý. Lấy thí dụ, xét về mặt nhạc lý, khoảng cách cao độ từ Rê lên Mi là một cung, viết trên dòng kẻ nhạc thì nốt Mi nằm trên nốt Rê một nấc. Nhưng Fa cao hơn Mi chỉ có nửa cung thôi mà tại sao lại viết nốt Fa nằm trên nốt Mi cũng một nấc chứ không phải nửa nấc?

Hóa ra, nếu áp dụng nhạc lý vào ký âm pháp thì đôi khi không đúng. Tương tự, Nếu áp dụng cứng ngắc nguyên tắc ngữ âm vào chữ viết thì cũng có khi không được. Ngữ âm học là một môn khoa học liên quan tới hình thức phát âm, nhưng chính tả lại thuộc lãnh vực xã hội, và vì thế chính tả chỉ là các qui ước, phần nhiều dựa trên thói quen của người sử dụng. Nhưng vì chính tả lại ảnh hưởng ngược đến cách phát âm của người dùng nó, nên các quy ước đưa ra phải chặt chẽ và hợp lý trong chừng mực nào đó, để mọi người có thể chấp nhận.

Vì thế, cho đến nay mặc dầu đa số người Hà Nội nói -- “Em giất xung xưởng được chân chọng mời bác vào nhà xơi chẻn giệu” cũng không thể cứ thế mà viết ra để rồi hợp thức hóa luôn cái giọng nhà quê đó làm giọng chuẩn của “thủ đô ngàn năm văn vật”.

Những nhược điểm trong nhận định của Vũ Xuân Lương lồ lộ ra đấy mà Hoàng Phê không thấy thì hai chữ “giáo sư” ở phần tước hiệu của ông nên được để vào trong ngoặc kép là vì vậy.

Điều lạ lùng là kết quả việc suy luận của tác giả Vũ Xuân Lương lại là bốn quy tắc giống y hệt với chính tả truyền thống. Nhưng may mắn này lại không xảy ra với quy tắc còn lại cho trường hợp “oa, oe, uy”. Và để tạm kết thúc, thiết tưởng các quy tắc chính tả truyền thống về cách đặt dấu giọng nên được ghi lại nhằm chứng minh tính đơn giản và rõ ràng của cha ông ta

Ưu tiên 1: dấu âm (dấu trăng: ă, dấu mũ: â, ê, ô, và râu: ơ, ư) và dấu giọng luôn đi chung: thuở, trời, đất, nổi, nhiều, thửa, thấy, thuốc, gửi, oằn, tuổi, tội, tuyết; Nếu có hai mẫu tự mang dấu âm (ươ) thì dấu giọng đi với mẫu tự sau (ơ): người, lượt, cưỡi, tưởng...

Ưu tiên 2: vần có phụ âm cuối thì dấu đi với nguyên âm cuối: oán, loét, cát...

Ưu tiên 3: vần là nguyên âm ghép đôi hay ghép ba thì mang dấu giọng ở nguyên âm áp chót: ngoèo, hỏi, hóa, của, khuỷu, hoài, ngoáy, cái, áo, kéo, đỉa, xỉu, xòe, chúa, núi, tủy...

Chú ý: đương nhiên phụ-âm-ghép “qu” và “gi” không mang dấu (vì chúng là... phụ âm), dấu đặt bình thường theo các ưu tiên trên:

♦ quả, què, (kiệt) quệ, quý, quở (trách), quẹo, quái, quào, quới, quyệt...

♦ giả, gié, gió, giặt giũ.

Nhưng khi “g” đi trước “i” nguyên âm hoặc trước nguyên-âm-ghép với “i” (khi này “g” có cùng cách phát âm với “gi”) thì theo các ưu tiên trên:

♦ gì, gỉ sét, giết (không đọc là dết), giặt gịa khác với giạ lúa, không cần sửa giặt gịa thành “giặt dịa”, cũng như không cần sửa “giấu giếm” thành “giấu diếm”.8

Quy tắc đặt dấu giọng của tiền nhân không hề lấy yếu tố thẩm mỹ làm nguyên tắc chủ đạo (như những người làm tin học vẫn tưởng và áp đặt cái tên “kiểu thẩm mỹ” cho nó) mà chỉ cốt làm sao cho thật đơn giản và dễ nhớ. Quả thật quy tắc đặt dấu giọng của tiền nhân nó rất thống nhất, nên không cần phải vận dụng trí óc nhiều mỗi khi đánh máy, không phải phân vân xem dấu nên đặt ở đâu. Thế nhưng, nay sau 1975, với cái "cải cách hiện đại" chữ viết, thì ta cứ phải phân vân rồi, không những phân vân, còn phải tranh luận xem nó phải được đặt ở đâu nữa.

Các vấn đề “cải cách” về dấu, về hình dáng của chữ,9 của những người làm văn hóa sau 1975 ở Việt Nam ngày càng chứng tỏ họ chỉ là những kẻ võ đoán, nhưng lại cứ hay đưa ra các lý luận có vẻ khoa học, có vẻ như hợp lý để biện giải cho sự phá hoại của mình. Họ thay đổi không chỉ vì họ muốn thay đổi. Nguyên nhân sâu xa của cái ý muốn - thay đổi mọi thứ - của họ chẳng qua chỉ là sự kiêu ngạo, muốn được xã hội vinh danh là những người có những cải tạo lớn lao cho văn hóa nước nhà.

Hồng Đức
30/10/07



1 http://vietlex.com/lib/compuLinguistics/quytacbodau.htm

2 Tìm thấy trên trang web Mạng Giáo Dục của Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Việt Nam (http://diendan.edu.net.vn/forums/thread/276086.aspx) nhưng khởi thủy là đăng trên trang web của Talawas: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7657&rb=06

3 Bài “Bàn về chuyện "đánh dấu thanh" trong tiếng Việt” cũng tại Talawas: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=94&rb=07

4 Địa chỉ: Số 2 Ngõ Hàng Bún, Hà Nội

5 Nhà xuất bản Webster đã có cách phiên-âm âm-ngắn bằng một ký tự nhỏ hơn, và nằm cao hơn các ký tự thường khác. Ví dụ chữ “but” được phiên là [bEt], đọc khác với [bEs] của “bus”. Nhưng một ký tự nhỏ xíu như thế thì không phù hợp để dùng trong chữ viết.

6 Đặt tên kiểu ký tự mới này là “giản thể” đối lại với kiểu cũ gọi là “phồn thể”.

7 Ký hiệu C ngược dùng để phiên âm o.

8 Nhưng để ghi chữ có âm là [zết] trong [túi zết], cần phụ âm đầu là “gi” và viết “giết” thì lại đọc là [ziết] mất, đành phải ghi là “dết”, hỏng mất phụ âm đầu. Đây là một nhược điểm thường có trong bất kỳ bộ môn xã hội nào. (revised on Nov 6th ’07)

9 Cuộc cải cách về hình dạng chữ viết tay đã từng là một “thành công, thành công, đại thành... gà bới” ở Việt Nam, ai đã từng làm nghề giáo trong nước vào thập niên 80 đều có thể làm chứng điều này. Chỉ tội nghiệp, đa số thanh niên độ tuổi 30 bây giờ không dám viết thư tay gửi người yêu.



 


Cách bỏ dấu truyền thống

òa = tòa, hòa, nhòa
óa = hóa
ỏa = hỏa tiễn
õa = lõa xõa, đồng lõa
ọa = hội họa,
oại = toại nguyện, huyền thoại

òe = nhòe nhoẹt, lòe xòe, lòe loẹt
óe = lóe ngóe, tóe lửa
ỏe = khỏe
ọe = nôn ọe, ọ ọe
oẻo = ngoẻo đầu

ùy = thùy mị
úy = túy lúy
ủy = ủy ban, thủy mặc
ũy = lũy tre
ụy = quy lụy
ụi = lụi hụi
ủi = cúi đầu
uối = phía cuối


Cách Bỏ Dấu Tiếng Việt theo truyền thống

 

 


Cách bỏ dấu "cải cách hiện đại" sau 1975 của VC

oả, oá, oà, oạ = hoà, hoá, hoạ, hoả, xoã
oè, oé, oẻ, oẹ = hoè, khoé, khoẻ, nôn oẹ
uỷ, uý, uỷ, uỹ, uỵ = thuỳ, thuý, thuỷ, luỹ, nguy.

Cách bỏ dấu tiếng Việt của VC


 photo Caacutechb1ECFd1EA5u_zps7813bf5c.jpg

 photo chiacutenht1EA31_zps139feaaf.jpg

 

Friday, July 25, 2014

I và Y

I và Y
 





Tiếng Việt Vỡ Lòng: I và Y


HỒNG ĐỨC
Ngay sau ngày 30/4/75, tất cả thầy trò miền Nam đều ngạc nhiên trước một sự kiện và đa số lại thích thú với sự kiện này: sự kiện thay tất cả những chữ “y” bằng “i” nếu không gây đổi âm. Ví dụ “nước Mĩ, Hoa Kì, mĩ thuật, í kiến” và “li thủy tinh, quí vị, tí toáy”.
Ngày nay có một số người vẫn tưởng rằng hồi đó người ta cho thay tất cả “y” bằng “i” kể cả “Thúy” thành “Thúi”. Xin thưa ngay để mọi người rõ rằng cái lỗi thô thiển đó không thể có dù cho những người làm giáo dục ở bất cứ đâu trong bất kỳ thời nào có dốt đến đâu đi nữa. Nó vô lý. Người ta đã chỉ thay khi nào có thể thay mà thôi. Và người ta có cái lý của người ta.
Sau này kiểu “chơi” như thế đã không còn nữa và thậm chí bị sửa lại bằng một nghị định gì đó của bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Việt Nam: Bộ này yêu cầu không được viết “qui” mà phải sửa thành “quy” và Hoàng Phê với Vũ Xuân Lương có “quy tắc” sau:[1]
“Nhất loạt viết khuôn vần /-i/ bằng I (trừ tên riêng) trong các âm tiết H-, K-, L-, M-, T- (nhất loạt viết HI, KI, LI, MI, TI, giống như viết BI, CHI, DI, v.v.; không nên viết HY, KY, LY, MY, TY, cũng như không ai viết BI thành BY, CHI thành CHY, v.v.)”
Nhưng uy tín của Hoàng Phê và Vũ Xuân Lương không biết đến đâu mà trên báo chí và sách vở trong nước vẫn thấy “mỹ thuật”, “ký sự”, “lý tưởng”, “hy vọng”... tức là “y” vẫn tùy hứng xuất hiện[2].
Còn ở các trung tâm Việt Ngữ hải ngoại bây giờ, dựa vào cuốn “Việt Nam Tự Điển” của hội “Khai Trí Tiến Đức” in năm 1931 ở Hà Nội và các hội nghị chính tả của Miền Nam những năm 1950 và 70, người ta lại kêu gọi sử dụng lại cái ý tưởng viết toàn bộ âm [i] bằng “i”.
Và ngày trước, học sinh trung học ở Sài Gòn học chính tả ra sao? Hãy xem quan điểm rất thoáng của nhà văn và nhà giáo Thế Uyên[3] khi ông dạy cho học sinh lớp 6:[4]

“Cách phân biệt I và Y
Hai nguyên âm này đã gây ra rất nhiều tranh luận trong mấy chục năm gần đây. Xét về phương diện chính tả, có ba trường hợp chính cần để ý:
* I và Y thay cho nhau được: quí và quý, vị và vỵ...
* I và Y thay cho nhau được, nhưng thói tục không chấp nhận: iêu và yêu, iên và yên.
* I và Y không thay nhau được vì làm thay đổi cách phát âm cùng nghĩa của chữ: tay (tay chân) và tai (tai mũi), hai (số hai) và hay (truyện hay)...
Trong khi chờ đợi cơ quan thẩm quyền công bố các quy tắc sử dụng hai nguyên âm này, về phương diện chính tả, ta cần nhớ rằng chỉ có thể bỏ qua trường hợp đầu mà thôi. Hai trường hợp sau, nếu dùng lầm, là kể như có lỗi.
Qui tắc hướng dẫn: ít khi I được dùng làm chữ cái đầu tiên của một chữ.”
Đã từng có quan điểm của một số nhà ngữ âm cho rằng “y” đóng vai trò “bán nguyên âm” chứ không phải “nguyên âm thuần túy”. Quan niệm này có được có thể vì những nhà ngữ âm đó thấy ở chữ Anh, Pháp gì đó, mẫu tự “y” thường là một bán âm: như “yes”, “you”, “yeux”, “yaourt”... bèn “nhập khẩu” vào tiếng Việt và kết luận chắc như đinh đóng cột: “y” là bán âm. Rồi họ không cho viết “ly kỳ” nữa vì trong đó không có nguyên âm.
Họ quên mất rằng khi ở cuối chữ, “y” tiếng Anh lại là nguyên âm: “wrongly”, “silly”, “fuzzy”, thậm chí trong “Y a-t-il” của tiếng Pháp chẳng hạn, “y” cũng là nguyên âm mang âm [i] rất cứng. Và trong từ “physics/physique” thì “y” của vần chính là bán nguyên âm chắc? Cần biết rằng bán nguyên âm “y” có cách phát âm [j] tương đương âm của chữ “d” của người Miền Nam. Lối phiên âm chữ “you” của Anh thành “iu” hoàn toàn là sản phẩm của những người sống sau bức màn sắt, chưa hề một lần được nghe tiếng nước ngoài. (Nếu dùng chữ Việt để phiên âm, nó phải bắt đầu bằng “d” chứ không phải bằng “i”. Nhưng khốn thay sau bức màn sắt “d”, “gi” và cả “r” lại được phát âm cùng một cách là [z]: Zời ôi, xong zồi, zễ zàng. Thế nên nếu phiên là “du” thì họ đọc thành “zu” là cái sở thú mất[5].)
Ngay trong tiếng Việt, chữ “yêu” phải đọc là “iêu”, phần đầu của tiếng có cách phát âm giống hệt “im” hay “ỉa” (xin lỗi không tìm được ví dụ khác), chứ không hề đọc là [jêu] (là âm của chữ  “dêu”) hay [jiêu] (là âm của “diêu”). Suy ra “y” = “i”. Trong chữ “tay” hay “tuy”, “y” vẫn có âm [i], nó là nguyên âm.
Vậy cái lý không được viết vần đơn “y” vì nó là bán nguyên âm đã rõ ràng là phi lý.
Và hình như trong khi tạo dựng bộ ký tự để phiên âm tiếng Việt, tiền nhân đã không hề sử dụng tới khái niệm bán nguyên âm. Thế nên tiếng Việt ngày nay có 12 chữ nguyên âm (trong đó có “y”, dĩ nhiên). Tiền nhân đã chỉ có một qui ước là bên cạnh thuộc tính âm của nó là [i], “y” còn làm nguyên âm phía trước ngắn lại: nguyên âm nào có “y” phía sau thì sẽ ngắn lại, hơi gắt một chút.
Ví dụ: Nếu bảo “ă” là “a ngắn” (hay như giáo sư Lê Ngọc Trụ gọi là “a gắt”), và bảo “w” là “u ngắn” (ngắn đến độ trở thành bán nguyên âm), ta có:
tay = tăi; loay hoay = loăi hoăi; quay = quăi
túy lúy = twí lwí
Trường hợp “ây”:
“â” chính là “ơ ngắn”. Lẽ ra phải viết “ơy” thì tiền nhân lại viết “ây”. Thành ra “cây” đúng ra phải viết là “cơy” hoặc “câi”
Cũng có thể giải thích việc “y” đi sau “â” nhưng không làm “â” ngắn lại là vì “â” vốn ngắn rồi, “y” không còn tác dụng nữa. Vậy “ây” = “âi”: “quấy” = “quấi” (mới nhìn thì thấy hơi chướng mắt), khác với “quới”.
Đến đây người viết chợt nhớ tới một ý kiến phản bác nhận định của học giả An Chi “ă” và “â” là “a ngắn” và “ơ ngắn”. Ý phản bác đó hỏi rằng nếu đã viết được là “tăi” thì tại sao lại còn đẻ ra “tay”... Mới đọc kẻ hèn này cũng hơi ngỡ ngàng, ừ nhỉ... Nhưng đây lại là một kiểu nghĩ “lấy thúng úp voi”, hệ thống kí hiệu trong lãnh vực nào cũng có trường hợp nhiều ký hiệu dùng để chỉ cùng một hiện tượng. Lấy ví dụ hệ thống ký âm âm nhạc, dấu sol thăng và dấu la giáng là hai dấu để chỉ cùng một cao độ trên cây đàn piano. Nếu không hiểu gì về nhạc pháp thì bảo những người tạo ra ký âm pháp là điên hay dốt gì đó. Có biết đâu người ta ghi lúc này lúc khác là để người đọc dễ nhận ra cung nhạc khi diễn tấu. Trong lãnh vực chính tả Việt Ngữ, có thể trước đây tiền nhân đã có ý đồ gì đó nhưng sau không khai triển nên bỏ qua,[6] chỉ dùng một kiểu phiên là đủ. Như chữ “quả” có thể viết là “cỏa”, chữ “cười” viết là “kười”, hoặc như “phương pháp” viết là “fương fáp” vẫn được nhưng nay chúng ta chỉ dùng có một kiểu đó thôi.
Trở lại với qui ước “y làm nguyên âm phía trước ngắn lại”: điều này dẫn tới hai hệ lụy:
(1) Chỉ viết “y” nếu muốn làm nguyên âm trước nó ngắn lại. Suy ra không dùng “y” khi không cần thiết. Và kết quả là: iêu nhau, iến tiệc, iểu điệu, chim iểng, iết hầu, iêng hùng, iếm thế, iểm trợ, Iên Thế (phải phiên như vậy vì chữ Quốc Ngữ có sau tên này), đê Iên Phụ, iên ngựa, i học, nước Í, í kiến, ỉ lại, Ỉ Thiên Kiếm, thế ỉ dốc, kí sự, li kì, quí vị (qu+í chứ không phải q+úi)...
(2) Muốn làm nguyên âm trước âm [i] ngắn lại thì viết âm [i] đó bằng “y”. Suy ra khi “y” đứng một mình thì nó không làm cái gì ngắn lại cả, và vẫn là âm [i]. Và kết quả là tùy hứng, như hiện nay.
Ngày nay có vẻ người ta thích khuynh hướng thứ hai hơn. Tại sao lại như vậy? Xin thưa, rõ ràng dùng “y” tự do thì họ có thể nói được nhiều điều qua qui ước chính tả riêng, rồi dần thành trường phái, rồi có thể trở thành qui ước chung, hợp với mong muốn của con người là mọi sự trở nên chính xác hơn, đẹp hơn và tiện lợi hơn. Viết “yêu” là vì đầu từ có một chữ dài thì trông vừa mắt hơn, viết “y phục” để bảo rằng đây là chữ Hán Việt, khác với “i hệt” là từ thuần Việt, “ỉ ôi” khác với “ỷ lại”, “một bút ký” khác với “một kí (lô) bút”, “tỷ lệ” khác “tỉ đồng”, “lý do” khác “lí ngựa ô” và “lí lắc”. Và họ viết “quý” vì “y” hợp qui tắc Hán Việt của họ hơn.
Nhưng họ vẫn viết “bỉ nhân”, “bỉ ổi” “nước  Bỉ” chứ không viết “bỷ”; viết “dĩ nhiên”, “Dĩ An”, chứ không viết “Dỹ”, tức là lại áp dụng luật thuần “i” sau các phụ âm “b”, “ch”, “d”, “đ”, “gh”, “kh”, “n”, “nh”, “ph”, “r”, “th”, “tr”, “x”.
Xét đến đây thì phải nói Vũ Xuân Lương dù gì cũng đã đúng trong qui tắc về “i” và “y” đơn âm, xin trích:
“Khi “I” đứng một mình làm thành một chữ (hoặc một âm tiết), thì: nếu là chữ Hán-Việt, nên viết “Y”, chắng hạn viết Y KHOA, Ỷ THẾ, Ý KIẾN... không viết I KHOA... Í KIẾN...; nếu là chữ thuần Việt, nên viết “I”, chẳng hạn viết Ỉ EO, Í ỚI... không viêt Ỷ EO, Ý ỚI...”
Thế nhưng khi cho viết “ý kiến”, “y khoa”, chắc chắn Vũ Xuân Lương không đặt vấn đề “bán nguyên âm” đối với “y”. Mà ở đây rõ ràng là để phân biệt một cái gì đó khác hơn là âm. Cũng trong cái ý muốn phân biệt này mà người ta viết “ngựa hí” và “hý lộng quỷ thần” vân vân. Chỉ tiếc là sao Vũ Xuân Lương lại không thấy cái khuynh hướng muốn phân biệt Hán Việt với Việt thuần khi người ta viết “kĩ” hay “kỹ”, “mĩ” hay “mỹ”... Đã mở lối được cho một chữ sao không mở luôn cho hai chữ để trả sự phong phú của tiếng Việt lại như cũ.
Người ta không viết “thy sỹ” hay “phy đạo” là vì từ xưa đến giờ tự điển viết khác, nên người ta không dám đó thôi. Những gì còn để ngỏ thì người ta tận dụng theo lí lẽ riêng của người ta.
Đó là các thói quen và qui tắc chính tả cũ mới.

Nhận xét về cách dùng “i” và “y” xưa nay vẫn gặp:

- Trường hợp không có phụ âm đầu: Đúng là “y” dùng cho chữ Hán Việt: ý kiến, ỷ lại, Ý Đại Lợi, Y Nhã... Còn “i” dùng cho chữ không phải Hán Việt: I-nha-xiô, I-nê, i hệt, sức ì, ì xèo, í ẹ, í ới, lợn ỉ, ỉ ôi, đi ị...
- Với những phụ âm đầu là “b, ch, d, đ, g, gh, kh, n, ngh, nh, p, ph, r, th, tr, x,” thì không thấy ai dùng “y” dù cho có là chữ Hán Việt hay không. Các chữ lấy làm ví dụ dưới đây chỉ là tiêu biểu cho mỗi loại nghĩa của chúng.
B:        hòn bi, bi ai, bi-da, bi ký, chì bì, phân bì, bì heo, li bì, bí mật, bí lối, quả bí, bỉ ổi, bỉ nhân, nước Bỉ, bĩ cực thái lai, cái bị, bị thương, quai bị, thủ bị, chuẩn bị.
Ch:        chi tiết, cái chi, chi tiêu, nhân chi sơ, địa chi, chì, chì (giỏi), chì bì, chí khí, con chí, chí tôn, sợi chỉ, đình chỉ, chỉ một, chỉ trỏ, chiếu chỉ, chăm chỉ, chị em.
D:        di chuyển, du di, sa-di, di chúc, dì cháu, dủ dỉ dù dì, dí dỏm, dú dí, dủ dỉ dù dì, dĩ lỡ, dĩ nhiên, dạn dĩ, Dĩ An, dị thường, giản dị.
Đ:        đi đứng, đì (đè), đù đì, đì đùng, đĩ thõa.
G:        chim gi đá, cái gì, gỉ (rỉ) sét.
Gh:        ghi chú, ghi-đông, Tân Ghi-nê, ghì chặt, ghị lại.
Kh:        khi dễ, khi nào, cười khì, không khí, vũ khí, khí tiết, con khỉ, Cửu trùng án kiếm khỉ đương tịch, dụ khị.
N:        cái ni, Ni-tơ, Ni-giê-ri-a, ni cô, ni tấc, mũ ni, nằn nì, nì (nè), nỉ, năn nỉ, nị, cà-ri-nị, tí nị.
Ngh:        nghi ngờ, dung nghi, uy nghi, đền nghì, nghỉ ngơi, nghỉ (hắn), nghĩ ngợi, nghị lực.
Nh:        nhi đồng, Ô Mã Nhi, kính nhi viễn chi, nhì, nhì nhằng, lí nhí, nhí nhảnh, ừ nhỉ, tâm nhĩ, nhị, Nhị Hà, đàn nhị, tế nhị, nước mắm nhĩ.
P:        số pi, Pi-ta-go, tả-pí-lù.
Ph:        phi lý, phi cơ, phương phi, hoàng phi, béo phì, phì phèo, Hoàng Su Phì, phí phạm, phí tổn, thổ phỉ, phỉ báng, phỉ phui, béo phị.
R:        như ri, gà ri, Rù Rì, rì rào, rì rầm, Phan Rí, rò rỉ, rỉ tai, hoen rỉ, rỉ rả, rầu rĩ, rầm rĩ, rị mọ, bí rị, rị (giữ = ghị).
Th:        thi ca, thi cử, thi hài, thi hành, thì, thì giờ, thì thầm, thì thọt, thì thào, bố thí, thí sinh, thí mạng, thủ thỉ, thỉ (mũi tên), thị lực, thị oai, thị vệ.
Tr:        tri thức, tri phủ, Na-tri, tu trì, trì kéo, trì trệ, (ao), trí thức, trí trá, bệnh trĩ, chim trĩ, trị, thịnh trị.
X:        xi mạ, ba xi đế, Phan-xi-cô, công-xi heo, xi em bé, trét xi, xù xì, xì hơi, xầm xì, lì xì, xí được, ba xí ba tú, nhà xí, xí xọn, xấu xí, xí-mại, dương xỉ, xỉ (răng), xỉ quặng, xị rượu, xá-xị, bí xị, (nhưng ô-xy, nên sửa lại là ô-xi, hay giữ nguyên oxy)
Nhưng khi bắt đầu bằng “s, v, k, l, h, m, t, qu” thì những chữ Hán Việt thường được viết với “y” và vẫn có một số chữ lấn cấn:
S:        ca sỹ, sỹ diện, hạ sỹ, sỹ phu, Sỹ Nhiếp: cây si, si mê, đen sì, sỉ nhục, sĩ diện, ca sĩ, sĩ quan, sĩ phu, Sĩ Nhiếp.
V:        tường vy, vỹ nhân, vỹ tuyến, long vỹ; vi vu, ti-vi, vi cá, bởi vì, trị vì, làm vì, yêu vì, ví von, cái ví, cái vỉ, van vỉ, vĩ tuyến, vĩ nhân, vị tha, vị tất, vị giác, thiên vị, quý vị, vi lượng, hành vi, vô vi, tường vi, chu vi.
K:        phổ ky, cầm kỳ, quốc kỳ, ký danh, ký sinh, kỷ niệm, ích kỷ, kỷ hà, kỷ luật, thế kỷ, Kỷ Hiểu Lam, Đắc Kỷ, kỹ sư, kỹ nữ, kỵ mã, đố kỵ; Ki-tô, cái ki, ki bo, cu ki, tàu hũ ki, cầu Băng Ki, kì cục, kì ghét, cực kì, kì đà, kí lô, kí đầu, kí-ninh, kỉ trà, kĩ lưỡng, kị giỗ, kiêng kị.
L:        biệt ly, hải ly, Hồ Quý Ly, lý thuyết, hải lý, lý tưởng, huyện lỵ; thác Cam Li, I-ta-li, cái li, li tấc, lì lợm, lì xì, lí lẽ, lí lắc, lí con sáo, liên lỉ, kiết lị, xá lị.
H:        Hy Mã Lạp Sơn, hy vọng, hy hữu, hy tế, hý viện, hoan hỷ, Tự quân chi xuất hỹ Hi-ma-lay-a, hi-drô, hi hi, hì hì, ngựa hí, hỉ mũi, hỉ hả, hỉ (hả) hậu hĩ, xảo ngôn lệnh sắc thiển hĩ nhân.
M:        mỹ thuật, nga my, nga mi, mi (mày), mi mắt, mi (hôn), lễ mi-sa, mì sợi, bánh mì, khoai mì, nhu mì, mí mắt, bật mí, tỉ mỉ, củ mỉ cù mì, mĩ miều, mĩ mãn ủy mị, lừa mị.
T:        ty học chánh, rượu ty, ty thể, nhị tỳ, tỳ kheo, đạo tỳ, tỳ bà, tuổi Tý, tỷ lệ, tỷ tỷ, tỵ nạn, tuổi Tỵ, tỵ khổng (lỗ mũi); ti tiện, cái tu ti, liền tù tì, tì (đồng), tí tẹo, cái tí, tò te tú tí, giả tỉ, một tỉ, tỉ như, tĩ (đít), tắc tị.
Qu:        quy tụ, kim quy, quy tắc, hải quỳ, quỳ hoa bảo điển, quý nhân, quỷ thần, thủ quỹ, quỹ đạo, quỵ lụy; bích qui, ắc-qui, con sâu qui (họ cuốn chiếu), quì gối, quí báu, quí (ba tháng), quỉ thần, quĩ đen, ngã quị, quị lụy.


Khi Vũ Xuân Lương nói “nhất loạt viết HI, KI, LI, MI, TI...”, quả nhiên là vì năm phụ âm đầu này có vấn đề về “y” và “i”. Nhìn lại bảng tổng hợp trên, trường hợp “sỹ” và “vy”, “vỹ” có vẻ như không thống nhất dùng “y” hay “i” khi là Hán Việt. Có vẻ như các nhà in và nhà xuất bản ngày trước đã sắp chữ sai trong hai trường hợp này. Còn lại đúng năm trường hợp Vũ Xuân Lương yêu cầu viết “i” thay “y”. Thực ra là sáu, phải kể cả “qu” vào nữa: Đã có những phân biệt khá rõ ràng (mặc dù vẫn có vài từ dùng lẫn lộn) trong cách dùng “y” với 6 phụ âm đầu “K, L, H, M T và Qu”: Đó là dùng “y” khi viết chữ Hán Việt, dùng “i” cho các chữ không phải “Hán Việt”.
Kể từ ngày ra cuốn tự điển của hội Khai Trí Tiến Đức rồi các hội nghị chính tả ở Miền Nam nêu qui ước thống nhất thành “i” đến nay vẫn tồn tại những chữ “y” trong trường hợp riêng khá nhất quán (Hán Việt) chứng tỏ những người làm văn hóa đã và đang ra sức làm giàu thêm cho chữ Việt và vẫn đi theo cái khuynh hướng ban đầu của tiền nhân khi họ tạo ra bộ chữ Việt, mà hồi đó là sự phân biệt giữa “quốc” cho từ gốc Hán (quốc gia, quốc thể, quốc tế, liên hiệp quốc...), với “cuốc” cho các từ mang nghĩa khác (cuốc đất, chim cuốc, cuốc bộ...) của tiền nhân.
Còn việc tránh dùng “y” khi mang dấu nặng vì dấu nặng này bị che khuất cũng là một lý do khiến người ta chọn “i”. Nhưng lập luận như thế sẽ khiến tất cả thành “i” hết. Vì không lẽ viết “huyện lị” mà lại viết “phi lý”, phải là “phi lí” mới nhất quán. Kết quả là không cần phân biệt “y” đơn Hán Việt nữa. Cứ viết “i phục”, “í kiến”... như trên đã thấy. Nếu muốn phân biệt Hán với Việt thì giữ “y” còn nếu không thì trả tất cả về “i”.
Trái lại, có ý kiến cho rằng phải viết tất cả các chữ đơn âm [i] bằng “y” vì như thế mới đẹp và rõ ràng; chữ “i” chỉ có một nét, lại nhỏ bé, dễ gây ngộ nhận với một ký hiệu gì đó khác. Và lúc này ta có: y học, ỷ lại, ý ẹ, đi ỵ, ỳ ra đấy... Điều này cũng đưa tới kết quả bỏ hẳn phân biệt Hán và Việt.
Bất kỳ ý nào trong hai ý trên và kể cả ý của Vũ Xuân Lương (trong đề nghị “i” đi với phụ âm) cũng đưa đến hệ quả là cái nguồn gốc Hán của tiếng Việt dần dần được xóa khỏi những sản phẩm văn hóa của người Việt. Điều này xấu hay tốt chưa rõ (có lẽ phải tham khảo ý kiến những người làm công tác bảo tồn bảo tàng văn hóa) nhưng rõ ràng là công khó của cả một tầng lớp sĩ phu (hay sỹ phu) trong cả thế kỷ bỗng chốc ra tro.
Các trường Việt Ngữ ở hải ngoại đã chọn con đường dễ đi cho trẻ con học tiếng Việt (và dễ dạy cho thầy cô của chúng vốn cũng yếu về chính tả và ngữ nghĩa), nhưng lại không tính chuyện đường dài. Sau này khi các em lớn lên và đọc thấy “lý tưởng”, “kỹ sư”, “mỹ thuật” trong các tác phẩm văn học thay vì “lí tưởng”, “kĩ sư”, “mĩ thuật” thì cái cảm giác bất ngờ nó cũng giống như cảm giác của kẻ hèn này sau năm 1975 gặp trường hợp ngược lại. Hỏi có hiểu không thì đương nhiên là hiểu chứ vì ai mà chả biết “i” và “y” cùng âm [i]. Nhưng mà rồi cũng sẽ giống như kẻ hèn này bây giờ, đến lúc đó các em sẽ không chấp nhận và bảo rằng viết “y” là sai. Các em sẽ bảo nó sai về mặt nào thì không rõ, nhưng các em sẽ tìm ra nhiều lý do để bảo rằng nó sai: thẩm mỹ, ngữ âm gì đó chẳng hạn, hay vì trong từ điển không có, vân vân... Mà các em sẽ không biết rằng những người dùng tiếng Việt làm tiếng Mẹ Đẻ có cách phát triển di sản của cha ông một cách rất sáng tạo và tài tình. Đến khi biết ra thì các em sẽ mang nặng mặc cảm tự ti là mình đã đứng ra khỏi dòng văn hóa Việt, và mặc lấy cái cảm giác rằng mình đã trở thành một đứa con ghẻ của Mẹ Việt Nam. Hãy nghĩ lại và làm lại vì chúng ta là người đi trước, và vẫn còn kịp để mà sửa. Mà sửa cũng dễ: chép lại đoạn trích sách “Quốc Văn Lớp 6” của Thế Uyên trên đây, còn các thầy cô giáo thì nên trau giồi thêm vốn Hán Việt của mình.
Việc sửa cho tất cả âm [i] phải được viết bằng “i” nếu được áp dụng sẽ trở nên một tiền lệ tạo thói quen sửa chữ lại cho đúng âm, mặc kệ giá trị văn hóa hay lịch sử của chữ, tiền lệ này sẽ kéo theo việc phải viết tất cả “gi” thành “d” vì hai âm này có cùng cách phát âm (là [z] ở miền Bắc và [j] ở miền Nam). Rồi tương lai các chữ “r” cũng sẽ sửa thành “d” ở miền Bắc và thành “g” ở miền Nam...; Rồi nguyên âm kép “ay” sẽ biến thành “ây” hết... nhiều lắm lắm!
Lại nữa nếu cứ nhất định phải sửa quy tắc chính tả thì hãy bảo người Anh sửa chữ “receive” hay “believe” lại thành “receeve” và “beleeve” trước đã. Hay bảo họ bỏ chữ “p” trong “empty” đi vì nó đâu có mang âm gì. Còn nếu muốn giản tiện cho chữ Việt thì trước tiên cũng hãy bảo người Anh bỏ bớt chữ “masculine” đi, cứ thay bằng chữ “male” chứ để làm gì hai chữ khác nhau mang cùng nghĩa như vậy. Rõ ràng kiểu cải cách đang bàn chỉ là kiểu “phú quý thụt lùi”.
Nói đi thì phải nói lại: thực ra ở Mỹ, “colour, labour...” đã bị sửa thành “color, labor” và “centre, litre” thành “center, liter” làm cho chữ Anh và chữ Mỹ đã khác nhau chút đỉnh. Nhưng nếu muốn bắt chước Mỹ thì hãy xem kỹ lại hoàn cảnh và quá trình cải cách của Noah Webster hồi đầu thế kỷ XIX trước đã.
Để kết thúc những lan man về chuyện i ngắn i dài này, nhân sau khi xem qua trang diễn đàn của các em học sinh chuyên Vật Lý Việt Nam[7] bàn chuyện “vật lý” và “vật lí”, kẻ hèn này xin được nhắc lại là chính tả là quy ước xã hội, nó là một yếu tố đóng góp vào những đặc điểm văn hóa của dân tộc, và nó thuộc về bộ môn xã hội chứ không thuộc về khoa học như bộ môn ngữ âm hay âm vị học. Các quy ước chính tả chỉ được hình thành bởi người sử dụng chữ viết xuyên suốt theo bề dầy lịch sử của một dân tộc. Việc võ đoán áp đặt chính tả chỉ nói lên ý muốn “mặc đồng phục” cho mọi thứ của những người duy ý chí tôn thờ chủ nghĩa giáo điều, mà lịch sử đã chứng tỏ họ luôn làm sụp đổ các nền văn minh của nhân loại.


Hồng Đức[8]
Tái bút:
Theo đuôi các ý tưởng viết lại chữ Việt xuất hiện rầm rộ gần đây (chữ Việt đa âm tiết, chữ Việt không dấu thanh,... và kể cả cái ý tưởng viết “ph” thành “f”, “c” thành “k” và “d” thành “z” đã có từ những năm 1920), kẻ hèn này cũng mày mò sáng chế và khẳng định rằng có thể bỏ hẳn “q” và thay hẳn “y” bằng “i” trong mọi trường hợp mà không thêm gì vào hệ thống chữ Việt.
Như đã biết (xem các ký hiệu phiên âm quốc tế), thêm dấu trăng vào đầu chữ “a” sẽ làm âm [a] của nó ngắn lại. Nay khi cần làm nguyên âm nào ngắn lại ta cứ việc thêm dấu trăng lên đầu nó.
Trong tiếng Việt, trừ “y” đơn ra thì chỉ có 10 vần có “y”, xin được cải cách như sau:
cũ        mới     thí dụ:
ay        ăi        mắi băi (máy bay)
ây        âi        lẩi bẩi (lẩy bẩy)
uy        ŭi        cŭị lŭị, cŭính cŭít (quỵ lụy,                       quýnh quýt)
yê        iê        iên ổn (yên ổn)
oay       oăi       loăi hoăi (loay hoay)
uây       uâi       tầi huầi (tầy huầy)
uyu       ŭiu       khúc khŭỉu (khúc khuỷu)
uya       ŭia       đêm khŭia (đêm khuya)
uyê       ŭiê       hŭiên thŭiên (huyên thuyên)
yêu       iêu       iểu điệu (yểu điệu)
Và tất cả “q” sẽ được viết là “c”, như: cuốc gia, cŭiên góp, cŭên sót, cóa đáng, vun cuén, cỏa cŭiết, cŭỉ cŭiệt, cuen thuộc...
Còn nếu ai không thích chữ “ŭ” thì có thể thay nó bằng chữ “w” cũng là một con chữ hiện đại đấy. Và sẽ có: kwả kwiết, kwái, kwanh kwẩn, kwá kwắt, twiệt diệu, hwiền bí, wi kwiền, Bà Kwẹo...
Ôi! Cuốc gia tŭiệt vời, cuê hương iêu dấu, sau những chặng đường khúc khŭỉu của lịch sử, sau những loăi hoăi trong đêm hôm khŭia khoắt tưởng chừng tŭiệt vọng, ngằi năi dân ta đã có được một thứ chữ ŭiên bác, không tầi huầi cuê mùa như trước.
Dec 01 2007


[2] Xin đọc bài “Suy nghĩ về chính tả, đọc “Quy tắc đặt dấu thanh trong tiếng Việt” của Vũ Xuân Lương” của Hồng Đức
[3] Thế Uyên tên thật là Nguyễn Kim Dũng (sinh năm 1937), giáo sư, nhà văn, dịch giả, chủ trương Nhà Xuất Bản Thái Độ, Saigon. Sau 1975 đi tù cải tạo, hiện sống tại Seattle, Hoa Kỳ.
[4] Trích “Quốc Văn Lớp 6” của Thế Uyên do Thái Độ xuất bản tại Sài Gòn năm 1972, trang 18.
[5] Về cái tật này, có một câu nhại giọng khá nổi tiếng: “Hao a zờ zú”!
[6] Có thể cái ý đồ đó chỉ đơn giản là muốn giảm bớt dấu trên đầu chữ cho nó sáng sủa: “mắi” nhiều dấu hơn “máy”. Nhưng “ớy” và “ấy” thì cũng nhiều dấu như nhau, sao lại chọn “ấy” mà không là “ớy”? Câu hỏi này còn bỏ ngỏ.
[8] Revised Nov 30 ’07.


 


LUẬT CHÍNH TẢ VIẾT “Y” VÀ “I”

1) Viết “i” cho tất cả những phụ âm sau đây, bất kể chữ Hán-Việt hay thuần Việt:

B, CH, D, Đ, GH, KH, N, NGH, NH, P, PH, R, S, TH, X, và V, ngoại trừ một số tên riêng chọn dùng, như Sỹ, Vy, Thy….

2) Viết “i” cho chữ thuần Việt và “y” cho chữ Hán-Việt sau các phụ âm sau đây:

K, L, H, M, T và QU.

Chữ “y” luôn được dùng khi đi đôi với phụ âm “qu”.

Chữ “i” chỉ sử dụng với phụ âm "qu" khi từ đó có nguồn gốc từ tiếng ngoại quốc hay phiên âm từ tiếng nước ngoài.


 

Sunday, February 9, 2014

Tên Mẫu Tự

Tên Mẫu Tự

 




Tiếng Việt Vỡ Lòng: Tên Mẫu Tự

Xin kể hầu quí vị một câu chuyện có thực, xảy ra cách nay không lâu tại ngay khu cư xá của người viết bài này:

Số là kẻ hèn này được một nhóm bạn phân công tổ chức tiệc họp mặt mừng “Ngày Nhà Giáo” năm đó. Địa điểm lại chính là cái nhà nho nhỏ của cha mẹ kẻ hèn này để lại trong một khu cư xá mênh mông được phân thành nhiều lô nhà và mỗi lô được đặt tên bằng một chữ cái trong bảng mẫu tự. Chuyện xảy ra cũng chỉ vì mấy cái tên mẫu tự này.

Trong số khách đến dự tiệc có người chưa từng ghé qua tệ xá nên mặc dù có địa chỉ in sẵn trên thiếp, vài vị vẫn không cách nào tìm được nhà. Vả lúc đó trời cũng đã tắt nắng mà điều kiện an ninh khu xóm lại dưới mức an toàn, nghĩa là chả có đèn đường chi cả. Không cách nào đọc được bảng số trước cửa các căn nhà không chịu lên đèn do muốn tiết kiệm điện, một vị giáo sư đi lạc bèn áp dụng lời cha ông dạy “đường ở miệng mình chứ đâu”: thấy một đám thanh niên đang ngồi uống cà phê đầu một ngã tư, ông hỏi, đại loại là “Lô giê ở đâu?” Anh thanh niên không biết chữ “giê” là gì. Vị giáo sư chợt hiểu ra bèn hỏi lại “Lô gờ ấy mà.” Anh thanh niên dường như đã hiểu nhưng muốn chắc hơn nên hỏi lại “Gờ thì biết, nhưng mà gờ gà hay gờ gùa?”!!!

Vâng! Chữ “R” được dạy ở trong nước là “chữ Rờ”, và thanh thiếu niên ngày nay lại có khuynh hướng nhà quê hóa trong phát âm, họ cố gắng bắt chước cách phát âm [r] thành [g] của người miền Tây, “cái rổ” nói thành “cái gổ”, “xong rồi” nói thành “xong gồi” và thành quen miệng, không sửa được nữa. Hậu quả là “gờ” “gờ” như nhau. Thế nên anh nọ mới phải thêm gà với rùa (nói ngọng thành “gùa”) cho nó “gõ gàng”. Theo cái kiểu “Bê bò hay bê phở” ấy mà.

Đây là một vấn đề của các vị hàn lâm học sĩ nước ta. Mà “nước ta” đã có Viện Hàn Lâm chưa ấy nhỉ? Nhưng dù chưa có hay có rồi đi nữa thì cũng đã xảy ra một kết cục: Cách gọi tên chữ cái của cha ông ta, vốn là “A, Bê, Xê, Dê...”, đã bị phủ nhận hoàn toàn. Các ngài hàn lâm học sĩ đã đặt lại bằng một loạt tên có cùng vần [ờ]: “A, Bờ, Cờ, Dờ...”, có lẽ với lý do dễ ghép vần. Mà đúng thế thật, “bờ a ba” nghe xuôi hơn là “bê a ba” chứ nhỉ. Nếu phải đánh vần “bê a” thì kết quả phải là “bêa” chứ sao lại là “ba” được.

Mới nghe thì thấy các ngài “Hàn Lâm Học Sĩ nước ta” quả là có lý. Nhưng thực tế thì các ngài đã đánh đồng bản chất với tên gọi. (Cái sai lầm về bản chất và tên gọi thì chỉ có học sinh cấp 1/tiểu học mới mắc phải, còn người nhà quê thì thường nhắc nhau “nó vậy mà không phải vậy”.) Không phải bất cứ ai tên là “Đại” cũng to lớn, bất cứ ai tên “Minh” cũng sáng láng đâu. Thế nên tên chữ là tên chữ, khi đánh vần ta có thể quên tên chữ đi mà chỉ cần nhớ âm của chúng là đủ. Với lại khi cần đọc chữ viết tắt mà dùng tên của các ngài đặt thì sẽ sinh lắm chuyện buồn cười. Chả lẽ lại nói “nờ đờ cờ pờ” khi phải đọc “NĐCP” hay “nờ quờ tờ ư đờ” khi đọc “NQTƯĐ”. Rối quá nên các phát thanh viên truyền hình khi phải đọc “WTO” cho hàng chục triệu khán thính giả nghe đã lúng túng và đọc đại “vê kép ti âu”! (Chuyện có thực, chả hiểu tại sao lại ra nông nỗi thế.) Rồi “NQĐHTWĐ” đọc là?...

Bây giờ hãy thử bàn đến những sai lầm trong cách đặt tên của quí cụ hàn lâm viện sĩ Việt Nam.

Như ta biết, tất cả các chữ phụ âm của tiếng Việt đều được các ngài đặt tên bằng âm của nó ghép với vần “ờ” theo kiểu chữ nào mang âm nấy. Như chữ B tên là “bờ”, âm “bờ”, C là “cờ” âm “cờ”, vân vân... Cách đặt tên này có vẻ có qui luật và dễ nhớ. Tuy nhiên có thật quá khó trong việc nhớ tên khoảng 20 chữ phụ âm cho dù tên chúng không theo qui luật nào hết? Lại nữa, khi phải đọc một loạt chữ viết tắt có vần [ờ] thì quả thật không ai có thể nghe rõ được vì chúng là vần xuống giọng. (Có lẽ nên bỏ dấu huyền đi và sửa thành bơ, cơ, dơ, đơ... thì khi đọc chữ tắt nghe mới rõ ràng.) Thế nhưng cứ theo luật của các cụ thì chữ K tên là gì một khi C đã là “cờ” rồi? À, quí cụ gọi tên nó là “ca”, nhưng thế thì còn đâu qui luật “chữ nào âm nấy” nữa. Mà tên “ca” này lại càng lỏi ra khỏi thanh dấu huyền của toàn bộ (lẽ ra nên đặt là “cà”). Vậy tức là khi nào bí quá thì quí cụ lại theo cách gọi tên cũ của tổ tiên?!

Hai chữ S và X cũng được các cụ giữ lại tên cũ là “ét sờ” và “ích xì”. Các cụ sợ gì mà không đặt tên chúng là “sờ” và “xờ” cho đúng luật của các cụ. Các cụ bảo nếu gọi chúng là “sờ” và “xờ” thì e rằng học sinh tiểu học không phân biệt được. Mà quả có thế thực, có một thời các giáo viên tiểu học xã hội chủ nghĩa phải dạy “S” tên là “sờ” và “X” tên là “xờ”, học sinh (chắc là miền Bắc, vì người Bắc không phân biệt được 2 âm này) loạn cả lên, cứ sai chính tả hoài. Thế rồi có một cô giáo đã “phát huy sáng kiến”, gọi “s” là “sờ chim” vì có dạng viết tay giống hình con chim, và “x” là “sờ bướm” vì có bốn cánh giống hình con bướm. Rồi cô dặn học trò “Các con phải nhớ sung sướng là sờ chim, còn xót xa là sờ bướm!...”

Các cụ sợ chúng không phân biệt được “sờ” và “xờ” của S và X, thế thì các cụ tưởng rằng chúng phân biệt được “bờ” và “pờ” của chữ B và P chắc?  Các cụ cũng tưởng là chúng có thể phân biệt được “dờ” và “zờ” của chữ D và Z chắc? Các cụ hay tưởng quá!

Rồi chữ “gờ” của các cụ (G), vì thấy nó có âm [g] (gờ) các cụ bèn gọi nó là chữ “gờ”. Nếu quả thật nó chỉ có âm gờ thì các cụ cứ “gé” “zảng” đường mà “gi” chép “zúp” tôi, tôi chẳng “gẻ” lạnh “zì” các cụ đâu! Quả là “gê” tởm!

Một điều đặc biệt không thể chấp nhận được là các cụ gọi chữ Q là chữ “quờ”. Vâng, các cụ phải đổi tên nó thôi, vì nếu giữ tên cũ là “cu” thì sợ học sinh con gái đỏ mặt không học chính tả được. Ấy, các cụ lại tưởng ai cũng luôn nghĩ tục như mình rồi. Mà thôi, cứ cho rằng các cụ sợ đúng đi vì hồi đó các cụ bà hàn lâm viện sĩ cũng đã từng đỏ mặt khi học chữ này. Nhưng nếu nó tên là “quờ” và mang âm “quờ” thì cần gì phải ghép thêm chữ “u” vào sau nó nữa cho phiền, cứ tha hồ viết tên của sản phẩm ăn được của cây cối là “qả” (vì quờ = q, quờ a qua hỏi qả = [kwả]). Và viết thoải mái các câu sau, “qả qít có mùi thơm dịu hơn qả qất”, “gà vịt nhà em nó cứ qang qác qàng qạc qanh qẩn trong sân”, “hôm qa cụ qính qáng để qên cái qần ở Bà Qẹo”, có phải tiện hơn không? Các cụ không tài nào nhận ra “q” phải được gọi là “chữ cu” và khi ghép nó với “u” thành cặp “qu” thì được qui ước là một phụ âm ghép có âm [quờ] hay [kw].

Nhân tiện xin mở một dấu ngoặc để nói thêm về chuyện cái sai trên đây đã kéo theo một cái sai khác của các cụ: sai khi cho rằng viết “qui” là sai.

Các cụ nhận xét rằng “ui” là một vần, vần [ui], vậy ráp nó với “q” thành chữ “qui” thì sẽ đọc là “cui” trong “dùi cui”.

Các cụ quên rằng ở đây ta ráp “i” vào với “qu” chứ không phải “ui” vào với “q”. Chính vì “qu” mang âm “quờ” [kw] nên âm |i| đi sau nó muốn viết bằng “i” hay “y” cũng đều đúng do cả hai đều có âm nguyên |i|. bằng chữ “i” thì viết “qui” lại càng đúng hơn với các cụ chứ. Vì cái chuyện viết tất tần tật “i” chính là í của các cụ chứ có phải của ai khác đâu, mĩ thuật, kĩ sư chẳng hạn.

Thế rồi các cụ qui định nọ kia, bắt người ta viết “quỷ” chứ không cho viết “quỉ”, “quỳ” chứ không được “quì” v.v... Các cụ sai lầm và trở nên võ đoán quá. Thực ra kiểu các cụ cho là sai mới là kiểu đúng của nguyên tắc ngữ âm. Còn khi một số nhà văn nhà báo theo thói quen riêng đã ghép vần “úy” vào với một chữ Q thành “quý”, vần “ùy” ghép thành “quỳ” họ đã quên là không có một chữ “q” độc lập trong tiếng Việt. Nếu muốn ráp vần “uý” với phụ âm dạng “c, k, q” thì chỉ cần viết “cúy” chứ không cần đến “q”. Và nếu nhất định dùng “q” thì có ngay “quúy” hay “quùy”. Họ là “nhà” chứ không phải “sĩ” nên có sai cũng không sao, còn các cụ được giao nhiệm vụ tìm cái đúng lại hồ đồ chọn ngay cái sai thì “qả là qá qắt”!

Nói đến đây nghĩ lại thấy cần phải trân trọng xin lỗi các cụ viện sĩ viện hàn lâm Việt Nam (nếu có) rằng đã nói oan cho các cụ, thực ra các cụ đã có bao giờ đặt tên cho các chữ cái trong bộ chữ Việt đâu mà bảo các cụ đúng hay sai. Ủa! Mà nếu chưa đặt tên cho chúng thì các cụ đã và đang làm gì khi mà điều đầu tiên và căn bản ấy còn chưa làm, lại cứ phó mặc cho đám giáo viên tiểu học và mẫu giáo – mà đa số mới chỉ học qua lớp Năm, một số có qua Lớp Chín/Đệ Tứ, cộng với sáu tháng học phương pháp giảng dạy – tự tung tự tác từ bấy đến giờ, đến nỗi một số thanh niên thiện nguyện dạy Việt ngữ ở hải ngoại ngày nay cũng ra rả “đây là chữ bờ, đây là chữ cờ” vân vân. (Nhưng sau khi được tập huấn thì các em này đã nhận ngay ra sai lầm.)

Qua đây ta thấy một nguyên tắc phiên âm [k] của Việt ngữ:


  • Dùng “c” khi đi trước a, o, u (nguyên âm nhóm 1): con cá cứ cố công cắn càng con cua.

  • Dùng “k” khi đi trước e, i (nguyên âm nhóm 2): kín kẽ kể kỹ càng.

  • Dùng “qu” để diễn âm [kw] như “quả” [kwả], khác với “của” [kuẩ/kuở], “qui” [kwi] khác “cui” [kui]...

Riêng trong hai chữ “quốc” và “cuốc” thì tiền nhân đã có sự phân định như sau:


  • Nếu là gốc Hán thì viết “quốc”: quốc gia, tổ quốc, quốc thể, quốc tế... [kwốk] hay [kwớk], cũng có khi viết “quấc” (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị).

  • Nếu không phải gốc Hán thì viết “cuốc”: cây cuốc, chim cuốc, cuốc đất, cuốc xe, cuốc bộ... [kuốk].

Quả nhiên tiền nhân không sai khi phiên âm dùng “qu” hay “cu”. Đến đây xin được đóng ngoặc.

Còn về tên của các chữ cái thì quả thật kẻ hèn này cũng chưa từng nghe hay đọc thấy ai công bố chính thức gì cả, tìm trên Internet cũng không thấy có văn bản nào. Bèn liệt kê ra đây bộ tên chữ đã học hồi còn bé. Một số mẫu tự hồi đó ít dùng nhưng nay đã trở thành phổ biến trong sách vở tiếng Việt cũng nhân đây xin được đề nghị tên cho chúng. Các nguyên âm không kê ở đây vì chúng theo luật âm nào tên nấy, riêng i và y thì phân biệt là “i” và “i dài”.


Tên các phụ âm chữ Việt

 

B
bê
C
xê
D
dê
Đ
đê
F
é-phờ
G
giê
H
hát
J
gi
K
ca
L
e-lờ1
M
e-mờ
N
e-nờ
P
pê
Q
cu
R
e-rờ
S
e-sờ2
T
tê
V
vê
W
vê kép
X
ích-xì
Z
giét

1 Khi đọc nhanh "e-lờ" đã cho đúng hiệu quả.
2 Khi đọc nhanh "e-sờ" đã cho đúng hiệu quả.

 

Có một số điều cần bàn thêm cho rõ sau đây:

  • Mặc dầu PH là một phụ âm phổ biến nhưng lại không có một chữ Việt nào bắt đầu bằng phụ âm P đơn. Có dùng đến P thì nó phải có tên, gọi tên nó là “pê” và người Việt vẫn phát âm được bằng cách bật môi cứng và mạnh hơn B. (Có những sắc dân Việt dùng  âm này, họ nói “Sa-pa”, “Phan-xi-păng”.) Trong một số sách giáo khoa có viết “Pí po, pí po, em tập lái ô-tô...” Vì âm [p] xa lạ với người Việt nói chung nên chúng ta cần sửa lại là “bí bo...”

  • Người Việt cũng không dùng chữ “F” mặc dù người miền Bắc vẫn phát âm này trong các chữ “phải, phỏng, phùn...” ([fải, fỏN, fùn...]).

Có lẽ vì thực tế này mà có người đã viết “fương fáp, fì fèo”. Thiển nghĩ đây chỉ là những trò nghịch ngợm của con trẻ khi đi học, muốn viết cho nhanh, vì rõ ràng chữ “F” ít nét, viết đỡ mất thời gian hơn hai chữ “PH”. Còn những người khai sinh ra chữ cái cho dân ta thuở đầu đã nghe dân Nam Bộ phát âm các từ “phà, phu, phố...” bằng môi ([p]) có gió trượt ([h]) nên đã phiên âm bằng “ph”.[3] (Điều này rất hợp với hệ thống La-tinh: photo, physics, phone...) Trân trọng cuộc khai sinh này nên đến nay dân ta dù Nam hay Bắc vẫn thống nhất viết “ph” chứ không viết “f” (ngoại trừ khi viết một số từ vay mượn như “cà-fê” hay “fax”). Đây là một đặc tính đáng quí của con người, luôn biết tôn trọng những gì tạo ra mình, luôn biết trân trọng những vật phẩm người khác trao tặng cho mình, như chính ông bà ta đã dạy “uống nước nhớ nguồn”. Còn nếu như có ai đó muốn sửa lại một tí rồi bảo rằng chữ Việt đã do mình tu chỉnh tốt hơn hay thậm chí tuyên bố chữ Việt là sản phẩm của mình thì cứ việc, mặc mọi người “fỉ” báng hay “fê fán”.

Thế nhưng vì có viết “cà-fê”, phải dùng đến chữ “f” thì nó phải có tên.


  • Không thấy người Việt dùng chữ “J” trừ khi phải đánh số thứ tự bằng chữ cái. Tuy nhiên nó vẫn phải có tên kẻo người ta không hỏi tìm nhà được.

  • Cũng không chữ Việt nào có chữ “Z” ở đầu ngoại trừ một trường hợp duy nhất “Ziên Hồng” do ông Lê Bá Kông chế ra. Tuy nhiên ta vẫn thường gặp chữ “Dzũng”, và tên một thi sĩ là “Hồ Dzếnh”. Sau này còn gặp “dzỏm”. Và từ ngày người Việt bị buộc phải “ly tổ cầu an” những chữ “Dz” xuất hiện ngày càng nhiều để tránh người nước ngoài đọc sai tên của ai đó.

  • Một nhận xét nhỏ về cách gọi tên của các chữ K, H, Q, trong ba thứ tiếng Anh, Pháp và Việt: Nếu áp dụng cách đặt tên chữ Việt trên đây thì ta có bảng so sánh tuyệt vời sau (để ý phần nguyên âm của A, K và H y hệt như nhau, U và Q cũng vậy):

 

A
K
H
U
Q
Anh
[el]
[kel]
[eltS]
[jU]
[kjU]
Pháp
[a]
[ka]
[aS]
[ỹ]
[kỹ]
Việt
[a]
[ka]
[hat]
|u|
[ku]

Chữ A, K, Q, trong ba thứ tiếng Anh, Pháp, Việt

 

Câu chuyện gờ gà gờ gùa lẽ ra đã không xảy ra. Nhưng vừa rồi kẻ hèn này nghe loáng thoáng trong câu chuyện điện thoại của tiện nội có câu “dê trên hay dê dưới ạ?” Vâng, cái gì cũng có nhược điểm của nó. Tuy nhiên trong thực tế ở đời có những điều không cần phải cải sửa gì nữa, nếu có muốn sửa cũng chẳng được hoặc cũng chẳng hay ho gì hơn. Và cái bảng tên chữ cái tiếng Việt là một.

Hồng Đức
Ngày 13 tháng 11 năm 2007
California, USA
------------------------

Ghi chú
[1] Đọc “en-lờ” là sai. khi đọc nhanh “e-lờ” đã cho đúng hiệu quả.
[2] Đọc “ét-sờ” là sai; khi đọc nhanh “e-sờ” đã cho đúng hiệu quả.
[3] Người Nam không dùng âm răng môi ([f], [v]) như người Bắc.





 

---------------------------------

 

 

Bấm vào Links để có bản gốc bài này của tác giả, và giữ lại tùy nghi xử dụng:

Cách bỏ dấu tiếng Việt
Link: http://www.fileden.com/files/2007/12/16/1647029/My%20Documents/SuyNghiChinhta_DocVXL.doc

Tiếng Việt Vỡ Lòng dành cho người giỏi tiếng Việt
Link: http://www.fileden.com/files/2007/12/16/1647029/TiengVietVoLong%284posting%29.doc



 

 

Âm và Chữ

Tiếng Việt Vỡ Lòng: Âm và Chữ

 




Tiếng Việt Vỡ Lòng: Âm và Chữ

Học trò ở Việt Nam ngày nay có lối phát âm lạ lùng. Có thể nói như vậy vì đang phổ biến một kiểu phát âm kỳ lạ nhan nhản trên ra-đi-ô, Ti Vi, và đầy ngoài đường hay trong trường học... Các nhân vật trong chương trình và chính các em phát thanh viên của các chương trình thiếu nhi trên ra-điô hay truyền hình (thường ở tuổi học sinh Cấp Hai và Ba (Tiểu Học và Trung Học) đang luôn luôn sửa âm [a] thành âm [e] mặc dù rõ ràng các em không nói giọng Quảng. Thực ra cái âm [e] này của các em không hoàn toàn giống với âm của chữ “e”, nhưng nó cũng hoàn toàn không phải là [a]. Các em nói “chào các bạn” nghe cứ như “chèo kéc beẹng”. Người nghe có cảm tường là các em nói mà không mở miệng (có lẽ do các em mặc cảm hàm răng mình xấu quá hay lưỡi mình... màu vàng chăng?), thành ra âm [a] rộng lại biến thành âm hẹp [e]. Và những khán thính giả có kinh nghiệm về phiên âm quốc tế thì liên tưởng đến ký hiệu “æ” thường dùng để phiên âm chữ “a” trong tiếng Anh, hay liên tưởng đến việc tổ tiên người Mỹ cũng đã từng làm là bẻ miệng đọc [a] thành [e] trong các chữ như: “bath, glass, class, can’t” chẳng hạn.

Chuyện này có từ cả chục năm nay mà không thấy ai lên tiếng hay có biện pháp gì để cải sửa thì những nhà giáo “ưu tú”, nhà ngôn ngữ “hết lòng vì thế hệ trẻ”, và các giáo sư “ngữ âm học” Việt Nam quả tình chỉ biết làm việc trên giấy tờ hay trên máy điện toán (nói theo kiểu “cách mạng” là “làm việc quan liêu”), chỉ biết đợi đến khi cả xã hội hình thành một cách phát âm sai thì lại mày mò tìm cách giải thích rồi lại sáng tạo ra quy tắc này nọ, chẳng hạn trường hợp này sẽ được giải thích là do “âm vị” của “a” khi đi trước các phụ âm nào đó thì hóa thành “e” hay [æ] gì đó rồi bảo đó là quy luật cách phát âm của người Việt. Rồi những người lập trình điện toán (computer programmer) sẽ đòi sửa tất cả chữ “a” thành chữ “e” cho tiện việc “số hóa” gì đó. Cuối cùng hóa ra tiền nhân sai khi viết chữ “a” trong từ “các”, “bạn”...

A. Đặc điểm của chữ Việt và các quy ước về âm của chúng:


Phần 1: Nguyên âm

Cách nay 50 năm (năm 1957) giáo sư Lê Ngọc Trụ đã định được vị trí âm trong miệng với bảng sau.

 

Trước

Giữa

Sau

Hẹp

i/y

ư

u

Trung

ê

ơ     â

ô

Rộng

e

ă     a

o

 

Chú thích:

  • Trước, Giữa, Sau là ba vị trí cao nhất của lưỡi khi phát âm.
  • Hẹp, Trung, Rộng hoặc Hẹp Vừa, Rộng Vừa là độ rộng của khoang miệng khi phát âm.

(Với âm sau thì hình môi sẽ tròn hơn trong khi với âm trước thì hình môi bẹt. Khoang miệng càng rộng thì môi sẽ mở càng nhiều. Hình môi lệ thuộc vào âm chứ không phải dùng môi để tạo âm, nên không cần xét.)

So với bảng của nữ giáo sư Han, người Mỹ gốc Hàn, lập năm 1966 sau khi nghiên cứu âm tiếng Việt bằng các phương tiện hiện đại (lúc đó), trích từ Wikipedia:

 

Trước

Giữa

Sau

Hẹp

i/y

ư

u

Hẹp vừa

ê

ơ

ô

Rộng vừa

e

â

o

Rộng

ă     a

 

Vài ghi chú trong trang web Wikipedia nói trên tỏ ra những nhận định của giáo sư Lê Ngọc Trụ trước giáo sư Han 9 năm đã tỏ ra đúng đắn. Đó là:



  • Ông không cần phân biệt hình môi ở những âm có cùng vị trí lưỡi và độ rộng vòm miệng vì ở mỗi vị trí với mỗi độ rộng nhất định thì tiếng Việt chỉ có một kiểu môi thôi. Thế nên bảng của ông chỉ có 3 cột, còn bảng vị trí âm của IPA có đến 6 cột (vì phải phân biệt âm tròn và âm không tròn môi). Trang Wikipedia viết (lược dịch): “Tất cả các nguyên âm đều không phải âm tròn ngoại trừ 3 nguyên âm ở vị trí sau (là tròn): u, ô, o.”
  • Nhận định khác của Lê Ngọc Trụ là “ă là a ngắn và â là ơ ngắn” cũng được trang web này viết như sau:

    “â và ă được phát âm ngắn – ngắn hơn các nguyên âm khác


    • “ă với a: hai nguyên âm a ngắn (ă) và a dài (a) có âm vị khác nhau, phân biệt chỉ ở độ dài mà thôi (chứ không phải ở chất âm).

    • “â với ơ: Giáo sư Han (năm 1966) nêu nhận xét rằng â và ơ khác nhau cả về độ dài lẫn độ cao của lưỡi, nhưng sự khác biệt về độ dài có lẽ là sự phân biệt là chính yếu.”

Nếu bảo ơ ngắn là â (không phân biệt độ cao lưỡi) thì hệ thống nguyên âm của tiếng Việt rút lại chỉ có 9 kiểu phân biệt rạch ròi, không thể lẫn lộn âm này với âm kia.

 

Trước

Giữa

Sau

Hẹp

i/y

ư

u

Hơi hẹp

ê

ơ       â

ô

Hơi rộng

e

o

Rộng

ă     a

 

Tức là chỉ có chín kiểu vị trí âm, thêm yếu tố gắt vào thì được hai âm nữa là ă và â.


Xét bảng vị trí nguyên âm của IPA dưới đây với 28 âm tất cả (màu đỏ là âm Việt, viết lại thành chữ), thì khả năng phân biệt 9 nguyên âm Việt là quá dễ. Có thể nói “độ phân giải” của tiếng Việt rất thấp, tức là rất dễ giải quyết, không hề cần phải tinh tế chính xác cao. Thế mà ngày nay đa số dân ta vẫn không làm được! Mà ngày trước nếu cha ông ta không làm được thì tại sao những người tạo ra chữ quốc ngữ lại thấy có khác biệt mà ghi sự khác biệt đó ra. Vậy có thể nói sự đọc trại âm ở những người có học chỉ thể hiện một lối sống lười biếng. Ngày càng có nhiều âm đọc trại chứng tỏ dân ta ngày càng lười biếng. Cứ cái đà này, mai kia chỉ còn có một nguyên âm “ơ” thôi. Vậy nên không được nại bất cứ lý do gì mà lơ đi và chấp nhận cách phát âm sai trong môi trường học thuật rồi bảo rằng đó là cách phát âm địa phương.




Một khi phát âm “rượu” thành “riệu” hay “rựu” hay “rụ” thì phải bảo là các cách phát âm này sai chứ không thể xuê xoa bảo rằng đó là đặc trưng phát âm của từng vùng. Trong thực tế tiếng “rượu” là một tiếng có thể phát âm được đúng với phiên âm của nó là [rượu] hay gì gì đó mà IPA ghi ra. Tương tự, “cừu” không thể được phát âm thành “kìu” hay “cù”; “thầy” không thể đọc thành “thày” hay “cằm” thành “cầm” hoặc “càm”, “ướp” thành “ớp”. Mặc dù vẫn biết khi nói một câu mà phát âm sai vài từ thì người nghe vẫn hiểu đúng ý cả câu. Nhưng việc luyện tập để có được cách phát âm đúng không khó, và một khi đã phát âm đúng được thì vấn đề chính tả sẽ trở nên dễ dàng.


B. Nhận xét và phương pháp sửa chữa


  • Phát âm phân biệt được 9 âm căn bản vẫn là tương đối khó với một số người. Một số địa phương người ta phát âm lẫn lộn những âm tương cận (có vị trí kế nhau trong biểu đồ trên). Thí dụ lẫn lộn giữa o và ô của người Nam, “con cóc” nói thành “côông cốc”. Ngày nay lại có khuynh hướng bẻ âm [a] thành âm [e], “các bạn” nói thành “kéc bẹng” như đã đề cập. (Có lẽ để bắt chước giọng Mỹ cho nó sang chăng. Người Mỹ nói “glass” thành [gles], “can’t” thành [kent]...) Cũng vì [a] và [e]  liền nhau trong biểu đồ. Người Bắc không thể nói được “ưu” do họ đã sửa âm [ư] là âm giữa thành âm trước hóa ra: “cừu” nói thành “kìu”, “rượu” thành “riệu”. “ă” và “â” cũng hay bị lẫn lộn: “cái cằm” bị nói thành “cái cầm”, thậm chí thành “cái càm”. Hai âm này cùng là âm giữa nhưng có độ rộng khác nhau.

Về phương pháp đọc đúng âm, dễ nhất là yêu cầu người học phát âm lần lượt các cặp âm hay lẫn lộn, trong khi cố phân biệt chúng với nhau:


Đối với nguyên âm đơn:


  • O – Ô: “cô co cổ”, “ cái rổ rỏ nước”, “bố bó tay”...

  • A – E: “nón cát-két”, “cái bát bể nát bét”, “hát chứ đừng hét”, “đi len trong đám lan”... vân vân.

Việc nghĩ ra các ví dụ để thực hành tương đối dễ, bất kỳ giáo viên nào cũng có thể làm được và ra bài tập phát âm cho học sinh của mình tùy theo đặc thù của mỗi lớp. Với những người không có điều kiện đến lớp cũng có thể tự rèn cách phát âm của mình bằng cách áp dụng phương pháp này. Trong khi luyện tập thanh nhạc, ca sĩ cũng luôn phải xướng các âm nguyên của ngôn ngữ mình để khi hát mới “tròn vành rõ chữ”. (Có điều buồn cười là đa số ca sĩ Việt Nam lại luyện toàn những âm của tiếng Ý, họ chỉ tập có 5 âm: “i, o, a, ô, u”, có khi thêm âm “ê”. Thế nên ngày nay thiếu niên mê ca nhạc Việt Nam cũng chỉ thích dùng có sáu nguyên âm thôi??)

Đối với nguyên âm kép:


  • Vần “au” thường bị người Nam nói thành “ao” không phải do “o” và “u” kế nhau mà thực ra họ đã đọc đúng phiên âm: hãy để ý cách đọc tên nhạc sĩ “Strauss”, nếu phiên qua chữ Việt hiện tại thì phải là “straos”. Ghi âm [au] bằng “ao” là một nhầm lẫn của tổ tiên ta: “lao xao mặt nước ao” đúng ra đã phải được ghi là “lau xau mặt nước au”. Còn “cây cau sau hè” lẽ ra phải viết là “cây cău său hè” mới đúng. Tức là tiếng Việt hoàn toàn không có vần “ao”. Nhưng một khi đã qui ước thành cách viết hiện nay rồi thì lỗi phát âm của người Nam trong vần “au” là do họ đã không đọc nhanh, gắt âm [a] của vần này.

  • Vần “ay” bị đọc thành “ai”: đây cũng là vấn đề về âm gắt. “a” của “ay” chính ra là “ă” tức là a ngắn.

  • Vần “ưu” bị đọc thành “u”: âm “ư” bị gắt quá, mất luôn. Và “ưu” bị đọc thành “iu”: do biến âm giữa “ư” thành âm ngoài “i”. Để giải quyết cần đọc chậm lại, nối từng âm vào với nhau.

Nói chung các lỗi phát âm kép chỉ có thể sửa bằng cách cho phát âm từ từ từng âm của vần. Không bao giờ nên đọc vần mẫu và cho lặp lại. Dù người đọc mẫu có chính xác đến đâu đi nữa thì người học cũng chỉ nghe được theo cái tai đã sai của họ thôi. Nó cũng giống như việc một ca sĩ cải lương, không luyện xướng âm tân nhạc mà khi nghe một bài hát tây phương thích quá đòi hát theo vậy. Cung điệu tây phương sẽ biến mất, chỉ còn những cao độ lơ lớ mà thôi.


Âm gắt

“Cằm” đọc thành “càm” cũng cùng nguyên nhân không gắt đủ. Mới đây tôi cũng nghe một em sinh viên Việt hải ngoại đọc “vun đắp” thành “vun đáp” cũng vì em không biết cách làm gắt âm “ă”. Cũng có khi làm gắt sai thì “cằm” lại hóa thành “cầm”, miệng không rộng đủ, biến ă thành â dù cho đã gắt đủ và giữ đúng vị trí lưỡi là âm giữa.

Muốn sửa chỉ cần đọc liên tiếp các âm gắt cùng phụ âm cuối, như “Ân ăn gian”, “Lân lăn lộn”, “Thất thắt nơ”, “nhạc réo rắt rất hay”, “thần thằn lằn”... Hoặc đơn giản hơn chỉ cần tập “áp, ắp, ấp”, “an, ăn, ân”, “ác, ắc, ấc”...


Phần 2: Phụ Âm

Phụ âm đầu

Lỗi phát âm phụ âm không quan trọng trong tiếng Việt vì dấu giọng và nguyên âm đã đảm trách gần hết việc tạo nghĩa cho một chữ. Hơn nữa, khi nói hai chữ một lúc thì dù phụ âm có sai tới mức nào đi nữa người nghe cũng vẫn nhận ra đúng ý người nói. Đó là trong thực tế đàm thoại thông thường, nhưng trong môi trường học tập khoa bảng, người ta bảo rằng phát âm lẫn lộn phụ âm là nói ngọng, “Ngọng níu ngọng no”.


(Còn tiếp ...>



 

 




Phần 2: Phụ Âm

Phụ âm đầu

Lỗi phát âm phụ âm không quan trọng trong tiếng Việt vì dấu giọng và nguyên âm đã đảm trách gần hết việc tạo nghĩa cho một chữ. Hơn nữa, khi nói hai chữ một lúc thì dù phụ âm có sai tới mức nào đi nữa người nghe cũng vẫn nhận ra đúng ý người nói. Đó là trong thực tế đàm thoại thông thường, nhưng trong môi trường học tập khoa bảng, người ta bảo rằng phát âm lẫn lộn phụ âm là nói ngọng, “Ngọng níu ngọng no”.


Sau năm 1975, người miền Nam nào cũng phải bật cười khi nghe người miền Bắc ào ạt “tiến về Sài Gòn” và “lói lăng” “giất” ngộ nghĩnh. Hầu như tất cả, tất cả người Bắc đó đều “nẫn nộn” “nờ thấp” (n) với “nờ cao” (l), tất cả âm [r] bị biến thành [z], cả 2 chữ “d” và “gi” cũng đều đọc bằng [z]. Người miền Nam không chỉ bật cười thôi, cái cười này là cái cười ngô nghê “chẳng hiểu gì sất” một khi nghe người Bắc “lỏi”, vì họ “lỏi” sai cả “dẩu giong”. Mà như đã biết, dấu giọng là yếu tố quan trọng bậc nhất trong ngôn ngữ Việt. Thế nên người Nam ngớ người ra không hiểu là phải.


Dần dần, cái văn minh của Sài Gòn đã làm cho những người “đi giải phóng” họ phải học theo và phần nào đã tự sửa được những cách phát âm sai của mình. Việc này đúng với qui luật lịch sử về đồng hóa: khi chinh phục được một dân tộc có văn hóa cao hơn mình, chính kẻ đi chinh phục mới là kẻ sẽ bị đồng hóa.


Nói chung, đến nay việc phân biệt phụ âm của người Việt ta là khá chính xác, ngoại trừ một số cặp hay lẫn lộn sau.


  • |b| và |p|: gần như không có từ bắt đầu bằng “p” nên đa số người Việt phát âm |p| thành |b| (cùng là âm môi môi) tuy chỉ có vài từ mang âm |p| như số pi, Pi-ta-go, Sa-pa, cục pin... Âm |p| thực ra chỉ là âm cứng của |b| nên vẫn có thể tập phát âm đúng được, làm giàu thêm cho tiếng Việt.

  • Chữ phụ âm kép “tr” thường được phát âm thành [ts] là âm của “ch” và đây là điều không thể chấp nhận. Một số người khác lại đọc thành [tS ] của tiếng Anh, điều này cũng chấp nhận được theo nguyên tắc “có phân biệt là đủ”.

  • Chữ “v” được người Nam phát âm bằng môi-môi, trong khi người Bắc dùng răng-môi. Đây đích thực là địa phương tính của âm và hoàn toàn chấp nhận được. Nhưng một khi đọc “v” thành [j], không dùng tới môi nữa, chữ “về” nói thành [jề] chẳng hạn, là sai, vì đây là âm của chữ “dề”. Những người Nam thời cựu trào luôn có cách phát âm rất đúng là [bjề]. Không hiểu sao lối đọc này ngày nay không còn thấy nữa. Nếu người miền Nam nay không thích cách phát âm cũ của ông bà nữa thì có thể đọc bằng răng-môi (răng của hàm trên và môi của hàm dưới) như người Bắc chứ đừng dung dị đọc giống âm của chữ “d”.

  • Tương tự như trên và cũng là địa phương tính, âm [f] được người miền Nam phát bằng môi-môi (là cách phát âm [p]), tuy môi không khép chặt vì còn phải thổi gió (gió là âm của [h]). Thế nên tiền nhân mới ký hiệu bằng “ph”. (Điều này góp thêm phần vào giả thiết chữ quốc ngữ được tạo dựng đầu tiên ở miền Nam.) Cũng giống trường hợp “v”, người miền Bắc đọc trúng âm [f] bằng răng-môi i hệt cách phát âm của các dân tộc Âu châu, do thế nên xưa nay đã có nhiều người đòi đưa âm [f] này về với ký hiệu hiện đại của nó là “f”, nhưng không được. Cách viết thuần “ph” đã trở thành đặc trưng của chữ Việt. Có thể do người Việt quá tôn trọng các giá trị truyền thống, chỉ chấp nhận cải cách nếu cái cũ thực sự có hại hoặc hoàn toàn không đúng, mà “ph” thì vẫn tương thích với cộng đồng la-tinh, ví dụ “phone, phantom, phases, phenomena...”

Hai trường hợp răng-môi biến thành môi-môi ở Nam Bộ đã làm vài người giải thích rằng do người miền Nam thường mất răng cửa nên đã phải thay răng bằng môi. Và khi học nói với người móm dĩ nhiên con trẻ sẽ không dùng tới răng.

  • Có sách nói “d” và “gi” là tuyệt đối bằng nhau, thậm chí bằng cả “r” (ở miền Bắc) và cùng đọc là [z]. Nếu thực vậy thì rõ ràng về mặt luận lý không cần phải tạo ra đến 3 chữ như vậy. Nhất là phải chịu cái nguy hiểm khi “d” Việt lại có cách phát âm lỏi ra khỏi hệ thống la-tinh. Cứ để “d” mang âm “đ” rồi “gi” thay luôn cho nó có phải tiện hơn không? Càng khỏi phải mất công lấy một ký tự cổ của la-tinh là chữ eth (D) làm âm [đ]. Các cụ người Bắc có học luôn luôn uốn lưỡi hơn một chút khi đọc “gi” (thành [Z]) và khi đọc “d” thì thẳng lưỡi (thành [z]). Còn các cụ người Nam thì đọc “d” bằng âm [j] và “gi” bằng âm [z]. Dù ở đâu thì hai chữ này đều được đọc phân biệt. Còn trong dân gian, những người ít học thường có thói quen rút bớt, làm nhẹ, hay đơn giản hóa vấn đề, họ đánh đồng hai âm này là chuyện “bình dân học vụ” của họ, không thể vin vào số đông sai để bảo rằng cái sai đó đúng.

  • “l” và “n”:
  • “Chiếc xe nam neo nên nề, nật.” Do lưỡi đã cong không đủ, có thể do lưỡi cứng quá hoặc ngắn quá. Cũng có thể do việc đơn giản hóa hoạt động của lưỡi. Tuy nhiên không thấy các dân tộc tây phương mắc lỗi này, tức là do di truyền, lưỡi người Việt có khuyết tật?
  • “Cái lày la lá cái kia”: theo cách lý giải trên thì lại do lưỡi dài quá hoặc mềm oặt. Và chắc cũng do di truyền khuyết tật của lưỡi, các Hoa kiều ở Chợ Lớn luôn mắc lỗi phát âm này, thậm chí họ còn lộn âm [đ] thành âm [l], thế nên mới có giai thoại “cho ngộ lái”. Cũng cần biết thêm rằng [n] và [đ] của tiếng Việt được phát ra bằng hoạt động hất vào của lưỡi. Đây là một đặc thù của tiếng Việt nên Hoa kiều không học được cũng phải.

Hai trường hợp trên thì còn có thể sửa chữa được bằng luyện tập công phu, cho người học đọc phân biệt từng cặp.

  • Nhưng trường hợp “Nẫn nộn cái lày thành cái lọ” thì là một khủng hoảng không thể giải thích được và cũng vô phương sửa chữa. Kiểu sai này làm người nghe hoàn toàn không hiểu. Tôi đã từng làm việc cho một người chủ có kiểu phát âm này. Anh ta biết khuyết điểm của mình, đã cố sửa và có tiến bộ tuy rất chậm. Nhưng thực ra, trong mỗi câu nói anh ta chỉ sai theo một kiểu. Cái ví dụ ở đầu đoạn này là một ví dụ tiếu lâm mang tính áp đặt mà thôi.

  • “Giưng mà”, “ở già” (nhưng mà, ở nhà). Cách phát âm địa phương, gặp ở Huế và cả một số vùng ở miền Bắc. Âm [nh] được đọc thành [gi].

Có người đã dùng hiện tượng này để giải thích chữ “Giời” chẳng qua là chữ “Nhời” mà chữ “Nhời” lại là trại âm của chữ “Lời”, cho nên “Đức Chúa Lời (Word)” biến thành “Đức Chúa Nhời” rồi thành “Đức Chúa Giời”. Nhưng có thực câu than “Ối giời ôi” chỉ xuất hiện sau khi có quốc ngữ và sau khi đạo Công Giáo đã được truyền đến thôn quê miền Bắc? Cũng khó xác định vì trước chữ quốc ngữ ta chỉ có chữ nôm mà chữ “trời” nôm viết bằng chữ “thiên” 天 ở trên để lấy nghĩa và chữ “viết” 曰 ở dưới để lấy âm, chữ “viết” có nghĩa Việt là “lời”, vậy suy ra ngày xưa cha ông ta gọi trời là “lời” thực sao, hay các cụ nói “giời nói” chứ không phải “lời nói”? Và giải thích lại, chữ “viết” có nghĩa Việt là “giời” (lời) nên cái chữ nôm có “thiên” ở trên và “viết” ở dưới sẽ đọc là “giời”. Và ngày đó không có tiếng “trời”. Vậy phiên âm câu đầu của “Chinh Phụ Ngâm” là “Thủa trời đất nổi cơn gió bụi” là sai, phải phiên là “Thủa giời đất nổi con gió bụi”... Lại nữa, trong bản Kiều nôm “trăm năm trong cõi...” có chữ “trăm” nôm viết bằng “bách” ở trên và “lâm” (lấy âm) ở dưới. Suy ra ngày xưa các cụ nói “trăm” là “lăm”. Hay là quả thật có liên hệ giữa “tr” với “l”?

  • Không biết “tr” có liên hệ gì về âm với “l” không, chỉ biết “tr” đã bị ngọng thành một âm rất giống âm của chữ “t” và câu pha tiếng “con tâu tắng nằm ở gốc cây te tụi, nó tòn tùng tục như cái tống teo” đã trở nên nổi tiếng cách nay nửa thế kỷ.

  • Câu pha tiếng trên tuy nổi tiếng nhưng hiện tại lại không phổ thông bằng câu “con cá gô ở trong cái gổ, nó kêu gột gột.” Đây là hiện tượng ngọng âm [r] thành âm [g] ở một số vùng Nam bộ. Đối với thanh niên hiện nay thì kiểu ngọng này dễ thương và đa số đã tập để có được cách nói ngọng dễ thương này. Họ đem cả vào trong trường đại học và thậm chí còn giảng dạy bằng cái kiểu ngọng này nữa. Mai kia các nhà ngữ âm học Việt Nam sẽ đòi sửa “run rẩy” thành “gun gẩy”, và sẽ có “Việt Nam là một con gồng châu Á không thua kém Kô-ghia”, “viện Găng Hàm Mặt”, bài dân ca “Gu Con Nam Bộ”, nước cộng hòa “An-giê-ghi” vân vân...

  • Nói vậy chứ hiện nay chưa thấy ai dám viết như vậy, kể cả trong các web-log (blog). Khi lướt qua các blog của thanh niên Việt Nam, ta chỉ thấy rặt các chữ “w” thay cho “qu”. Chắc là thanh niên ta bây giờ xác tín rằng chữ “nhà quê” phải đọc là [nhà wê] mà không biết rằng mình đang tự “nhà-quê-hóa”.[1] Dù đây chỉ là một cách biểu hiện tâm lý phản kháng của giới trẻ, cũng nên cẩn thận kẻo có ngày mọi người đều sai thì cái đúng sẽ bị đào thải. Nó sẽ không khởi đi từ các chữ “w” trong blog mà bắt đầu từ quan niệm phát âm tiếng Việt của con em chúng ta. Hiển nhiên chúng không cho rằng phát âm rõ ràng là một biểu hiện của văn minh cao cấp.

  • “s” và “x”: “s” là một âm đục, gần giống [S], khi phát âm lưỡi cong hơn âm của “x”. Người miền Nam phân biệt hai âm này rất rõ còn người miền Bắc không phân biệt hai âm này.

Phụ âm cuối

Người miền Nam hay bị phê bình là nói không đúng phụ âm cuối. Tuy nhiên, nếu xét trên quan điểm phát âm đúng là phát âm phân biệt thì không có nhiều lỗi phát âm của người miền Nam. Có một số lỗi điển hình sau:


  • “t” biến thành “c” hay “ch”: “sát” thành “sác”, “nhứt” thành “nhức”... Nhưng trong chữ “ít”, họ vẫn đọc đúng phụ âm cuối “t”, cái khác biệt là họ làm âm “i” trở nên quá ngắn, chứ không đọc thành “ích”.

  • “n” biến thành “ng”: Người miền Nam đọc tiếng “anh” là [a-nh] trong khi người Bắc đọc là [AN] trong đó [A] hơi gắt: về điểm này, đã xuất hiện một âm không ký hiệu trong chữ Việt, âm [A], tuy nhiên chỉ ngoại lệ ở vần “anh” và vần “ach” mà thôi. Không có trường hợp đọc khác nên ký hiệu vẫn dùng được: dù đọc [a-nh] hay [AN] người nghe cũng hiểu một nghĩa “anh”

Tuy nhiên, về mặt hiệu quả của ngôn ngữ, không nhất thiết phải phát đúng âm mà điều quan trọng là sự phân biệt rạch ròi giữa các âm. Nếu “Ôi thôi! Tôi toi rồi” nói thành “Oi thoi! Toi toi ròi” hay “Ôi thôi! Tôi tôi rồi” thì quả thật không chịu được. Hay “anh An ăn cơm” nói thành “an An an cơm”, “chú chim Khướu khiếu nại với ông Bồ Nông” nói thành “chú chim Khiếu khiếu nại...” vân vân...

HỒNG ĐỨC

23/11/2007
California, USA



[1] Cần phân biệt ý nghĩa chữ “nhà quê” ở đây. Ở đây nó mang nghĩa xấu, tuy rằng trong các trường hợp khác chữ “nhà quê” hay “thôn quê” luôn mang một ý nghĩa cao quí nào đó.





 

---------------------------------

 

 

Bấm vào Links để có bản gốc bài này của tác giả, và giữ lại tùy nghi xử dụng:

Cách bỏ dấu tiếng Việt
Link: http://www.fileden.com/files/2007/12/16/1647029/My%20Documents/SuyNghiChinhta_DocVXL.doc

Tiếng Việt Vỡ Lòng dành cho người giỏi tiếng Việt
Link: http://www.fileden.com/files/2007/12/16/1647029/TiengVietVoLong%284posting%29.doc